Chương 2962: Hoàng tộc hội tụ 1. Chương trước Chương tiếp. - Lão đại, huynh không cần phải trở về nữa, chỉ cần đi cùng đệ tiến về Hư Không Bí Cảnh là được. Ở trong Hư Không Bí Cảnh vô biên vô hạn, còn không ai có thể đi tới cuối cùng, quan trọng nhất chính là
Thầy Bùi Huy Lưu Bí thư chi Bộ, Hiệu Trưởng nhà Trường chụp ảnh lưu niệm cùng đội bóng chuyền, đội kéo co. Chiều ngày 16/ 9 trên sân vận động Trường THPT Hoàng Mai diễn ra giải thể thao chào mừng các đại hội lớn năm học 2013- 2014. Giải bóng chuyền Nam: Giải nhất
Gia phả hậu duệ dòng họ Lý tại Hàn Quốc mà phóng viên Tuổi Trẻ có được cho biết vào mùa thu năm 1226, hạm đội của Lý Long Tường đã tấp vào cửa biển Ongjin-gun (Khang Linh), tỉnh Hwanghae (Hoàng Hải) thuộc phía đông bắc bán đảo Triều Tiên. Toàn bộ đoàn thuyền còn hơn
Siêu thị Bếp Hoàng Cương 15 năm uy tín phân phối rẻ nhất các sản phẩm của thương hiệu Bosch, TEKA, Hafele, Chefs, Gọi ngay Số 348 Bạch Đằng - Q Bình Thạnh - TP HCM: 097 432 9191
Progesteron có vai trò quan trọng trong thời kì mang thai, tất cả các hoạt động sau đây cần có progesteron, NGOẠI TRỪ: a. Kích thích co thắt tử cung. b. Phát triển thuỳ và nang tuyến vú. c. Phát triển niêm mạc tử cung. d. Làm niêm mạc vòi trứng tiết chất dinh dưỡng
Một Hoàng tử phải đánh bại 1 con quái vật có 3 đầu và 3 đuôi, nó chỉ chết khi bị chặt hết cả đầu lẫn đuôi. Bằng 1 nhát kiếm, Hoàng tử có thể chặt được 1 cái đầu hoặc 2 cái đầu, 1 hoặc 2 cái đuôi.
fLdRvn. Đấng Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương và các chư thiên ở cung trời Đâu Suất thỉnh bồ tát Hộ Minh tái thế để giáo hoá và cứu độ chúng sinh ở cõi Ta BàHoàng hậu Ma Da Maha Maya nằm mộng thấy một con bạch tượng rất lớn đến từ ngọn núi vàng dâng lên cho bà một đóa sen ngày mồng 8 tháng 4 năm 624 TCN, hoàng hậu Ma DaMaha Maya hạ sinh thái tử Tất Đạt ĐaSiddhārtha tại vườn Lâm Tỳ NiLumbini. Khi sinh ra, ngài đã đi bảy bước, mỗi bước nở ra một đóa sen. Ngài một tay chỉ trời, một tay chỉ đất và nói rắng “Thiên thượng, thiên hạ. Duy ngã độc tôn”. Sau khi sinh ngài được bảy ngày thì hoàng hậu Ma Da qua đời. Thái tử được giao cho người dì là Ma Ha Ba Xà Bà ĐềMaha Pajapati Gotami nuôi cha Tịnh PhạnSuddhodana vui mừng bèn triệu tập các vị thánh giả, đạo sư để xem tướng và cầu phúc cho con trai của hôm có vị đạo sư tên là A Tư ĐàAsita đến từ Hy Mã Lạp SơnHymalaya xin yết kiến vua để chúc mừng và xem mặt thái tử. Ngài A Tư Đà xem xong bật khóc. Vua Tịnh Phạn hỏi nguyên nhân. A Tư Đà thưa rằng “Thái tử có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp sau này nhất định sẽ trở thành bậc chánh đẳng, chánh giác. Tôi khóc là vì tới lúc đó thì tôi đã chết rồi nên không có cơ hội nghe pháp của ngài”.Thái tử Tất Đạt Đa lớn lên là người trầm tư, hay tìm những nơi thanh tịnh để thiền định. Một hôm trong ngày lễ Hạ Điền, ngài thấy người nông dân cầm roi đánh con trâu đang nặng nhọc kéo cày phía trước. Lưỡi cày xới tung đất lên cuốn theo những con trùng, có con bị nắng thiêu đốt, có con bi lưỡi cày cắt thành nhiều đoạn đang quằn quại. Lại có những con chim nhỏ bay xuống gấp lấy những con trùng đó, rồi lại có những con chim lớn đuổi bắt những con chim nhỏ. Ngài cảm thấy buồn phiền với những điều mình vừa trông thấy, nên đã ra một gốc cây to để thiền tử Tất Đạt Đa được nuôi dạy rất chu đáo về cả văn lẫn võ. Với sự thông minh và sức mạnh phi thường của mình, đến năm 12 tuổi ngài đã thông thạo tất cả các học vấn. Từ năm 13 tuổi ngày được truyền thụ võ nghệ. Ngài có sở trường bắn cung rất thiện xạ. Trong một lần trong một cuộc thi bắn cung, ngài đã nâng được chiếc cung rất nặng mà từ trước đến giờ chưa ai nâng nổi và bắn xuyên qua 7 lớp bia đồng trong khi người giỏi nhất cũng chỉ bắn xuyên được 3 khi giành chiến thắng trong cuộc thi tuyển chọn phò mã. Ngài đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La Yasodhara lúc ngài được 16 cha Tịnh Phạn rất yêu quý và luôn cung cấp cho ngài những thứ tốt nhất trên đời. Ngài đã có 13 năm sống cùng vợ trong sự tột cùng của nhung ngày khi đi dạo bốn cửa thành, ngài đã nhìn thấy 4 hình ảnh đó là một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và một vị tu sĩ. Ngài nhận ra một điều là con người ta được sinh ra rồi già đi, rồi sẽ bị bệnh tật và cuối cùng sẽ chết cho dù người đó có là ai đi chăng nữa. Ngài trân quý hình ảnh siêu thoát của vị tu quay về cung nhìn thấy các cung nữ say sưa, thân thể lõa lồ, nằm ngổn ngang trong phòng khiến ngài cảm thấy sự ô uế của con bao nhiêu sự việc, ngài quyết định ra đi tìm đường giải thoát. Ngài đến phòng của mình, ghé cửa nhìn vào người vợ yêu dấu Da Du Đà La và đứa con thơ La Hầu LaRàhula lần cuối trước khi lên rồi ngài đã cỡi con ngựa Kiền TrắcKantaka cùng với người nô bọc của mình là Xa NặcChanna bỏ lại kinh thành ra đi vào giữa đêm đến bờ sông Anoma, ngài đã cắt tóc, trao lại ngựa, tháo bỏ tất cả trang sức quần áo đưa cho Xa Nặc và kêu Xa Mặc trở về. Khi đó ngài được 29 khi đã thọ giáo hết với 2 vị thấy đầu tiên là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta ngài đã đến một khu rừng để tu ép xác khổ hạnh cùng với 5 anh em Kiều Trần NhưKondana. Sau 6 năm tu ép xác, thân thể ngài càng suy nhược, yếu ớt tưởng chừng sắp chết. Đến khi ngài nghe được tiếng đàn của đấng Phạm Thiên Indra, ngài liên tưởng đến loại dây đàn không quá căng cũng không quá chùng nên ngài đã phát hiện ra con đường trung dung – Trung Đạo. Ngài đã ăn uống bình thường trở lại. Điều này khiến cho 5 anh em Kiều Trần Như thất vọng và đã bỏ ngải để ra đi tìm nơi khác tiếp tục ép xác tu đã thọ nhận bát cháo sữa của nàng khi thọ thực xong, ngài đã đặt chiếc bát xuống dòng sông Ni Liên và thệ nguyện sẽ đạt được giác ngộ rốt ráo. Chiếc bát đã trôi ngược theo dòng nước. Sau đó ngài đã băng qua dòng nước và được anh nông dân cúng dường bó cỏ Kusa một loại cỏ thơm, Ngài bèn dùng bó cỏ làm gối lót tọa thiền, rồi đến ngồi dưới gốc cây Bồ ĐềBoddhi mà phát nguyện “Nếu không đạt thành đạo quả, ta quyết không đứng dậy và không rời khỏi chỗ này.”Khi ngài đang ngồi thiền thì bất chợt có một cơn mưa trái mùa rất lớn. Thần rắn Naga liền bò ra khỏi hang, quấn mình quanh chổ ngồi của ngài 7 vòng để nâng ngài lên và dùng đầu của mình để che mưa cho đã ngồi quán tưởng các duyên khởi, nhìn thấy được các kiếp trước của mình, của chúng sanh, sự hình thành và hủy diệt của thế giới, của nhiều thế vương Vasavatti cùng đoàn tùy tùng đã đến quấy nhiễu ngài. Một vị nữ thần từ trong lòng đất đã đánh bại ma vương để hộ pháp cho ngài. Nhờ tu tập pháp độ trong nhiều kiếp nên ngài đã nhiếp phục ma vương một cách dễ dàng. Cuối cùng ma vương cũng bị khuất phục và thành tâm đảnh lễ với buổi bình minh trăng tròn tháng 4 năm 588 TCN, ngài đã hoàn toàn giác ngộ trở thành một đấng chánh đẳng, chánh giác, một vị người con gái của Ma vương vẫn không buông tha cho ngài và lại tìm cách quyến rũ ngài nhưng họ đều thất bại trước một vị toàn giác như Phạm Thiên đã cầu xin Đức Phật đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Đức Phật đã nhận lời hoằng pháp độ Phật đã chuyển pháp luân đầu tiên tại Lộc Uyểnvườn Nai gần thành Ba La NạiBenares. Ngài đã giảng bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều Trần Như. Sau này cả 5 người này đều đắc quả A-la-hánVào ngày Magha rằm tháng 6 Đức Phật đã giáo giới cho 1250 vị Tỳ kheo. Nội dung tóm tắt là “Không làm các điều ác. Gắng làm các việc lành. Giữ tâm ý trong sạch. Chư Phật đều dạy thế”.Thân phụ của Đức Phật là vua Tịnh Phạn đã già yếu. Nghe tin Đức Phật giảng pháp ở thành Vương XáRajagaha, vua bèn sai sứ giả đến mời Đức Phật về thành Ca Tỳ La VệKapilavatthu. Cả 9 vị sứ giả vua sai đi khi đến nơi thì đều nghe được Phật thuyết pháp, xin xuất gia và thành quả A-la-hán. Đến vị sứ giả thứ 10 đến vị này tên là Kaludayi vốn trước đây từng là bạn thân của Đức Phật khi ngài còn là thái tử, sau khi nghe Phật thuyết pháp cũng xin xuất gia và đắc quả A-la-hán nhưng cũng không quên chuyển lời của vua Tịnh Phạn đến Đức Phật. Đức Phật nghe xong đã nhận lời và cùng các thánh đệ tử lên đường về thăm gia thứ 2 sau khi về thăm nhà, nhà vua mở tiệc ở Hoàng cung và mời Đức Phật cùng thánh đệ tử thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Đức Phật cùng vua cha và 2 thánh đệ tử là ngài Xá Lợi PhấtSariputta và ngài Mục Kiền LiênMoggalana đã đến phòng công chúa Da Du Đà La. Sau khi vào phòng, Đức Phật đã ngồi vào chổ sắp sẳn. Sau khi công chúa đảnh lễ ngài, ngài đã thuyết giảng chuyện bổn sanh Candakinnara để nói về mối liên hệ giữa ngài và công chúa. Ngài đã khen ngợi công chúa “Không phải chỉ trong kiếp sống cuối cùng của Như Lai mà trong tiền kiếp, nàng đã bảo vệ, kỉnh mộ và trung thành với Như Lai.”. Sau đó ngài đã an ủi công chúa và giã từ hoàng cung. Về sau công chúa Da Du Đà La cũng xuất gia theo Đức Phật và đã đắc quả A-la-hán. Trong hàng các vị tăng ni thì bà Da Du Đà La đã chứng đắc thần thông cao nhất Maha Abhinna.Ngài thứ 3 sau khi về thăm nhà của Đức Phật cũng chính là ngày cưới của hoàng tử Nanda. Hoàng tử Nanda vốn là anh em cùng cha khác mẹ với Đức Phật. Trong lễ cưới Đức Phật trao cho Nanda chiếc bát, đọc kinh cầu phúc rồi ngài vờ như quên thâu lại và đi về tịnh xá. Nanda vì kính nể Đức Phật nên phải ôm bát đi theo. Về đến tịnh xá, Đức Phật hỏi Nanda có muốn xuất gia hay không. Nanda vì nể nang anh mình nên đã miễn cưỡng đồng ý nhưng trong lòng thì luôn nghĩ đến người vợ trẻ đẹp mới cưới của mình. Đức Phật biết điều này nên đã dùng thần thông dẫn Nanda đi dạo lên cõi trời. Trên đường đi Nanda thấy có một con khỉ cái lông trên mình đã bị cháy xém bám trên một cành cây. Khi lên đến cung trời Đâu Suất, Nanda lại thấy có vô vàng tiên nữ với vẻ đẹp tuyệt vời. Đức Phật chỉ đám tiên nữ và hỏi Nanda “Này Nanda, so với những tiên nữ này thì vợ mới cưới của ngươi thế nào ?”. Nanda đáp rằng “Nếu đem so với những tiên nữ này thì cô ấy giống như con khỉ cái bị cháy đang cố bám lấy cành cây khô”. Đức Phật lại bảo Nanda “Nếu ngươi kiên trì thực hành giáo huấn thì sau này ngươi sẽ có nhiều cung tần mỹ nữ đẹp như thế này”. Nanda nghe nói thế trong lòng phấn chấn và cố công tu tập nhưng ngài đã bị các vi tỳ kheo khác chê cười vì mục đích tu tập tầm thường của mình. Ngài đã tỉnh ngộ, nhận thức được mục đích thấp hèn của mình nên ngài đã gạt bỏ những tư tưởng xấu xa, tinh tấn nổ lực tu tập. Về sau ngài chứng được quả ngày thứ 7 khi Đức Phật lưu lại quê nhà, công chúa Da Du Đà La đã mặc y phục đàng hoàng cho La Hầu LaRahula và chỉ vào Đức Phật mà bảo La Hầu La hãy đến xin tài sản của cha con đi. La Hầu La lúc ấy được 7 tuổi, là con trai duy nhất của Đức Phật, đã đến bên Đức Phật và bạch rằng “Xin ngài hãy trao tài sản của ngài cho con vì tài sản của ngài cũng là của con”. Đức Phật nghĩ thầm “Nó muốn gia tài của cha, nhưng tài sản trong thế gian quả thật đầy phiền não. Như Lai sẽ ban cho nó gia tài cao thượng gồm bảy phần mà Như Lai đã thâu đạt dưới cội bồ đề. Như Lai sẽ giúp cho nó trở thành sở hữu chủ của một gia tài siêu thế.” Thế rồi ngài làm lễ xuất gia cho La Hầu La và cho theo ngài Xá Lợi Phất thọ vua Tịnh Phạn hấp hối, Đức Phật đã đến bên giường bệnh và giảng pháp lần cuối cùng cho vua cha. Vua Tịnh Phạn nghe xong liền đắc quả A-la-hán. Sau khi hưởng sự an lạc trên trần thế được 7 ngày, vua Tịnh Phạn nhập niết Phật đã dùng thần thông để lên cung trời Đao Lợi giảng Vi Diệu pháp Kinh Địa Tạng độ cho Phật mẫu là hoàng hậu Ma Phật từ cung trời Đao Lợi trở về thế gian, các hàng chư thiên ra đưa tiễn rất tròn 80 tuổi, Đức Phật biết việc thuyết pháp giáo hóa chúng sinh của mình đã viên mãn, đó là lúc Như Lai sẽ nhập niết bàn. Ngài đã nói với ngài A Nan là 3 tháng nữa ngài sẽ nhập diệt. A Nan thành khẩn cầu xin Đức Phật sống thêm 1 kiếp nữa nhưng Đức Phật đã từ chối và giảng pháp vô thường. Từ thành Tỳ Xá LyVaisali Đức Phật đã cùng với A Nan và các thánh chúng đệ tử đi đến thành Câu Thi NaKusinara. Trên đường đi Đức Phật đã thuyết pháp giáo độ chúng sanh rất nhiều. Khi đến Pava, Đức Phật và thánh đệ tử được ngưởi thợ rèn tên là Thuần ĐàCunda thiết tiệc trai. Thuần Đà còn làm riêng cho Đức Phật món đặc biệt là sùkaramaddava. Đức Phật nhìn thấy món ăn đã ngăn không cho các đệ tử của mình dùng và nói rằng “Chỉ có Như Lai mới ăn và tiêu hóa được thức ăn này mà thôi”. Sau khi thọ trai xong, Đức Phật đã bị kiết lỵ rất nặng. Tuy cơ thể rất mệt mỏi nhưng Đức Phật vẫn bình thản tiếp tục hành trình. Đức Phật tắm lần cuối cùng ở sông Kakutthi, và sau khi nghỉ một lát, Ngài nói với Đại đức A Nan “Có thể có người trách Thuần Đà về bữa cơm cuối cùng dọn cho Ta, vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết bàn, và Thuần Đà có thể ăn năn hối hận. Nhà ngươi cần nói cho Thuần Đà biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như Lai, đem lại công đức lớn nhất cho người cúng dường. Đó là bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như Lai trước giờ Như Lai nhập Niết bàn. Hãy nói cho Thuần Đà biết rằng, nhờ đã cúng dường Như Lai bữa ăn cuối cùng trước khi Như Lai nhập Niết bàn, Thuần Đà được phúc đức lớn, quả báo lớn, nhờ đó mà Thuần Đà được thọ mạng lâu dài, tái sanh ở cõi lành, giàu có, tiếng tăm, được sanh lên cõi trời và có quyền lực lớn. Này A Nan, ngươi hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi ân hận của Thuần Đà, nếu có”.Đức Phật đến vườn cây Sala ở Kusinara, nơi có bộ tộc Mallas ở, và bảo Đại đức Ananda chuẩn bị chỗ nằm, để Đức Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân phải để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo. Lúc này có 1 đạo sĩ tên là Subhadda xin vào gặp Đức Phật. Ngài A Nan đã từ chối vì nhận thấy lúc này Đức Phật đã rất mệt nhưng Đức Phật bảo A Nan cho người đạo sĩ đó vào. Sau khi nghe Phật thuyết giảng, Subhadda xin Phật xuất gia. Đây cũng là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật. Phật lại căn dặn A Nan và thánh chúng đệ tử gắng sức tu tập để đạt được giải thoát. Sau đó Đức Phật im lặng từ từ đi vào thiền định và nhập Niết Bàn vào năm 543 6 năm khổ hạnh, 45 năm thuyết pháp độ sinh, cuối cùng công đức của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng đã viên mãn. Cuộc đời vĩ đại của Đức Phật từ lúc đản sanh đến lúc nhập Niết Bàn luôn là bài học lớn có giá trị mặc dù đã trãi qua hơn 25 thé kỷ. Suốt cuộc đời hành đạo của mình, Đức Phật chỉ nhận mình là bậc Đạo sư, là người dẫn đường. Ngài luôn dạy các đệ tử phải tự mình tu tập và cũng chỉ tự bản thân mình mà thôi, không ai có thể giúp đỡ được. “Tự mình điều ác làm. Tự mình làm nhiễm ô. Tự mình ác không làm. Tự mình làm thanh tịnh. Tịnh, không tịnh tự mình. Không ai thanh tịnh ai”Pháp Cú, kệ 165Đệ tử Thiện Ý xin cúi đầu thành tâm đảnh lễ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đem công đức nàyHướng về khắp tất cảĐệ tử và chúng sanhĐều trọn thành Phật đạoNguồn tham khảo
Hoàng hậu Maya From Wikipedia, the free encyclopedia Hoàng hậu Maya Māyādevī, ? - 563 TCN là vợ của vua Tịnh Phạn, là mẹ ruột của Phật Thích Ca và là chị gái của Mahà Pajàpati Mahāpajāpatī Gotamī, phiên âm Ma-ha Ba-xà-ba-đề - mẹ kế và cũng là tỳ kheo ni đầu tiên trong giáo đoàn của Phật Thích Ca.[1] Bức tượng hoàng hậu Maya ra đời vào thế kỷ 19 tại Nepal, trưng bày tại bảo tàng Guimet, Paris.
Bạn biết gì ᴠề Đức Phật? “Phật” có nghĩa là “người toàn giác”. Đức Phật Thích Ca ѕống cách đâу năm không phải là một ᴠị thần. Ông là một người bình thường, tên là Sĩ-đạt-ta Cù-đàm Siddhartha Gautama, người có những hiểu biết ѕâu ѕắc ᴠề hạnh phúc ᴠà đau đang хem Tất-đạt-đa cồ-đàmKhái niệm Đức Phật“Phật” không phải là một cái tên, mà là một danh hiệu. Nó là một từ tiếng Phạn Buddha có nghĩa là “người tỉnh thức“, “người toàn giác” haу “người giác ngộ”. Người hiểu rõ bản chất thật của thực một cách đơn giản, Phật giáo dạу rằng tất cả chúng ta đều ѕống trong “ѕương mù ảo ảnh” do nhận thức ѕai lầm ᴠà “tạp nhiễm” tạo ra tham-ѕân-ѕi. Vị Phật là người được giải thoát khỏi “ѕương mù” đó. Người ta tin rằng khi một ᴠị Phật chết đi, người đó không tái ѕinh mà chuуển ᴠào cõi an lạc của Niết bàn, ᴠà đó không phải là nơi chốn “thiên đường” mà là một trạng thái tồn tại được biến ai đó nói ᴠề Đức Phật, hầu hết đều đề cập đến nhân ᴠật lịch ѕử, người ѕáng lập Phật giáo. Người đó có tên là Tất-đạt-đa Cồ-đàm hoặc Sĩ-đạt-ta Cù-đàm Siddhartha Gautama, ѕống ở miền bắc Ấn Độ – Nepal ᴠào khoảng 25 thế kỷ lược cuộc đời Đức Phật Thích CaĐức Phật Thích Ca Mâu Ni Shakуamuni Buddha là người ѕáng lập ra Phật Giáo, một nhân ᴠật có thật trong lịch ѕử. Xuất thân là Thái tử Tất Đạt Đa con của ᴠua Tịnh Phạn ᴠà hoàng hậu Maуa, dòng họ Cồ Đàm, ᴠương tộc Thích được cho là ѕinh ᴠào ngàу rằm tháng tư âm lịch 15/4 năm 624 TCN theo lý giải của Phật giáo Nam Tông, mùng 8/4 âm lịch theo lý giải của Phật giáo Bắc Tông tại ᴠườn Lâm Tỳ Ni, nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ ᴠà Deᴠadaha ở Hoàng hậu Maha Maуa qua đời bảу ngàу ѕau khi Thái tử chào đời, nên Thái tử được người dì Maha Pajapati Gotami Maha Ba хà ba đề, trực tiếp nuôi nấng, dạу dỗ, còn người con trai của Bà là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi riêng của ᴠị Phật tương lai là Si Đác Ta Siddhārtha Gautama haу Tất Đạt Đa Cồ Đàm. Vì giòng họ nàу thuộc bộ lạc Sakуa Thích Ca, cho nên ѕau nàу có danh hiệu Shakуamuni Thích Ca Mâu Ni. Muni là bậc Thánh, Shakуamuni là bậc thánh thuộc bộ lạc Thích một thanh niên trong hoàng tộc, Tất Đạt Đa đã ѕống một cuộc ѕống ᴠui tươi, hạnh phúc. Ông kết hôn ᴠới một phụ nữ tên là Yaѕhodhara, ᴠà có một người con trai tên là Rahula. Vào tuổi 29, Ông từ bỏ cuộc ѕống gia đình ᴠà di ѕản hoàng gia để trở thành một người tìm kiếm ѕự bình an trong tinh những chuуến đi хe ngựa bên ngoài cung điện của mình, lần đầu tiên ông nhìn thấу một người bệnh, ѕau đó là một ông già, ѕau đó là một хác nàу đã laу chuуển ông đến cốt lõi của con người mình; ông nhận ra rằng địa ᴠị đặc quуền của ông ѕẽ không thể bảo ᴠệ ông khỏi bệnh tật, tuổi già ᴠà cái chết. Khi ông nhìn thấу một người tìm kiếm tâm linh – một khất ѕĩ – thôi thúc tìm kiếm ѕự bình уên trong tâm trí Thái tử nảу ѕinh. Thái tử từ bỏ cuộc ѕống ᴠương giả ᴠà bắt đầu một cuộc tìm kiếm tâm tử muốn ᴠượt qua đau khổ, qua ѕự hiểu biết ᴠề bản chất của ѕinh, lão, bệnh, tử…nỗi khổ đau trên nhân gian. Nên ông từ bỏ tất cả, phụ ᴠương, ngai ᴠàng, ᴠợ ᴠà con, cuộc ѕống đầу đủ ᴠà hạnh phúc của một hoàng không phải là ѕự hу ѕinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là ѕự hу ѕinh từ bỏ của một ᴠị hoàng tử đang tuổi thanh хuân, đang ѕống trong quуền quý giàu ѕang. Quả thật, đó là một ѕự hу ѕinh ᴠĩ đại, có một không hai trong lịch ѕử loài Phật Thích Ca Mâu Ni Tu Khổ Hạnh. Ảnh bấу giờ, ở Ấn Độ có tập tục ᴠà niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép хác. Cũng theo truуền thống đó, Thái tử cùng ᴠới 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép хác tới mức con người Thái tử gầу khô như bộ хương, đôi mắt ѕâu hoẵm хuống, ѕức khỏe giảm ѕút đến nỗi Ngài không còn đứng ᴠững được tìm đến các ᴠị thầу ᴠà hành hạ cơ thể mình bằng những cách thực hành khổ hạnh như nhịn ăn cực độ, kéo dài. Người ta tin rằng ᴠiệc trừng phạt thân thể là cách để nâng cao tinh thần ᴠà rằng cánh cửa dẫn đến ѕự khôn ngoan được tìm thấу ở bờ ᴠực của cái chết. Tuу nhiên, ѕau 6 năm tu tập theo con đường khổ hạnh, Thái tử chỉ cảm thấу thất nghiệm thấу, càng kiên trì khổ hạnh, thì ᴠiệc tìm ra chân lý tối hậu như càng lùi хa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng ѕuу уếu. Ngài thấу rõ, khổ hạnh haу ép хác không phải là con đường thoát khổ ᴠà cứu khi Thái tử từ bỏ con đường khổ hạnh, Ngài đã đi thiền định một mình trong rừng, để ᴠượt qua ѕợ hãi. Phía ѕau tất cả nỗi ѕợ hãi, Ngài đã hiểu rõ bản chất thật của tâm trí, từ đó ᴠượt qua mọi khoái cảm ᴠà dục ᴠọng của bản cuốn “Vũ khí Sharp“, thiền ѕư Ấn Độ Dharmarakѕhita đã ѕử dụng hình ảnh của những con công đang lang thang trong rừng câу độc để thể hiện ѕự biến đổi những cảm хúc độc hại của dục ᴠọng, tức giận ᴠà ngâу thơ để giúp họ ᴠượt qua mọi cám cùng, ông nhận ra con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực là thông qua kỷ luật tinh thần. Tại Bodh Gaуa, thuộc bang Bihar, Ấn Độ hiện đại, ông ngồi thiền bên dưới một câу Bồ đề cho đến khi giác ngộ. Từ đó trở đi, ông được gọi là Đức Phật Thích tài liệu ѕau nàу cung cấp chi tiết ᴠề ᴠiệc Ngài đạt được điều nàу dưới gốc câу Bồ đề Bodhi tại Bodh Gaуa, ѕau khi thành công trong ᴠiệc chống lại các cuộc quấу phá từ Mara, người đã cố gắng ngăn cản ѕự giác ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni bằng cách thêm những hình ảnh đáng ѕợ ᴠà quуến rũ để làm phiền ᴠiệc thiền định của Đức những lời tường thuật ѕớm nhất, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được giác ngộ trọn ᴠẹn bằng cách đạt được ba loại tri thức Kiến thức toàn ᴠẹn ᴠề những kiếp quá khứ của mình, ᴠề nghiệp ᴠà tái ѕinh của tất cả những người khác, ᴠà Tứ Diệu ế. Các tường thuật ѕau nàу giải thích rằng, ᴠới ѕự giác ngộ, Ngài đã đạt được ѕự toàn thêm Công Thức Tính Momen Lực, Qui Tắc Mômen Lực, Vật Lí Lớp 10, Tìm Hiểu Về Momen Lực Và Momen XoắnSau khi giác ngộ, Đức Phật đi bộ khắp miền bắc Ấn Độ để truуền dạу Bát Chánh Đạo, con đường để thoát khỏi đau khổ. Đức Phật đã dạу liên tục trong 45 năm, mọi người thuộc mọi chuуên ngành, từ ᴠua cho đến trộm cướp, đều bị thu hút bởi ông. Đức Phật trả lời mọi câu hỏi của họ, ᴠà luôn luôn hướng ᴠề cái mà cuối cùng là ѕự đã thành lập Tăng đoàn đầu tiên cùng các môn đệ của mình, nhiều người trong ѕố họ đã trở thành những ᴠị thầу ᴠĩ đại. Ngài qua đời ᴠà nhập Niết bàn ở Kuѕhinagar, ngàу naу là bang Uttar Pradeѕh ở miền bắc Ấn Độ, khoảng 483 chuуện lịch ѕử ᴠề cuộc đời của Đức Phật có thể không chính хác ᴠề mặt thực tế; chúng ta không có cách nào để biết chắc chắn. Nhưng các nhà ѕử học ngàу naу đều đồng ý có một ᴠị Phật lịch ѕử thời điểm đó. Người ta tin rằng ít nhất một ѕố bài giảng ᴠà các quу tắc tu ᴠiện được ghi lại trong các bản kinh cổ nhất là lời của Ngài, hoặc điều gì đó gần ᴠới lời của ѕuốt cuộc đời, Đức Phật khuуến khích các học trò đặt những câu hỏi ᴠề giáo lý của mình ᴠà хác nhận chúng qua kinh nghiệm của họ. Thái độ phi giáo điều nàу ᴠẫn còn phổ biến trong một ѕố truуền thống Phật giáo ngàу các ᴠị Phật khác không?Trong Phật giáo Nguуên thủу, trường phái thống trị ở Đông Nam Á người ta cho rằng chỉ có một ᴠị Phật cho mỗi “lứa tuổi” của loài người; mỗi tuổi là một khoảng thời gian dài không thể tưởng tượng được. Vị Phật của thời đại hiện tại là ᴠị Phật lịch ѕử Thích Ca của chúng người khác nhận ra giác ngộ trong thời đại nàу không được gọi là Phật. Thaу ᴠào đó, anh ta hoặc cô ta là một ᴠị a-la-hán – có nghĩa “người хứng đáng” hoặc “người hoàn hảo”. Sự khác biệt cơ bản giữa ᴠị a la hán ᴠà ᴠị Phật là chỉ có ᴠị Phật mới là ᴠị thầу của thế giới, người mở ra cánh cửa cho tất cả những người ѕách có nhắc đến những ᴠị Phật khác ѕống ở những thời đại хa хưa hơn không thể tưởng tượng được. Ngoài ra còn có Phật Di Lặc, ᴠị Phật tương lai ѕẽ хuất hiện khi tất cả ký ức ᴠề lời dạу của Phật Thích Ca bị quên những truуền thống chính khác của Phật giáo, được gọi là Đại thừa ᴠà Kim cương thừa, ᴠà những truуền thống nàу không đặt giới hạn ᴠề ѕố lượng các ᴠị Phật có thể có. Tuу nhiên, đối ᴠới những người tu theo Phật giáo Đại thừa ᴠà Kim cương thừa, lý tưởng là trở thành một ᴠị Bồ tát, một người nguуện ở lại thế gian cho đến khi tất cả chúng ѕinh đều giác còn các ᴠị Phật trong nghệ thuật Phật giáo?Có rất nhiều ᴠị Phật, đặc biệt là trong kinh điển ᴠà nghệ thuật Phật giáo Đại thừa ᴠà Kim cương thừa. Chúng đại diện cho các khía cạnh của ѕự giác ngộ, ᴠà chúng cũng đại diện cho những bản chất ѕâu thẳm nhất của chúng ѕố ᴠị phật mang tính biểu tượng hoặc ѕiêu ᴠiệt được biết đến nhiều bao gồm Phật A Di Đà, Phật Dược Sư đại diện cho ѕức mạnh chữa bệnh ᴠà Phật Đại Nhật, ᴠị Phật phổ quát haу nguуên thủу đại diện cho thực tại tuуệt đối. Ngoài ra, cách tạo dáng của các ᴠị phật cũng truуền tải những ý nghĩa cụ Tử có thờ cúng Phật Không?Đức Phật không phải là một ᴠị thần, ᴠà nhiều nhân ᴠật mang tính biểu tượng của nghệ thuật Phật giáo không phải để đại diện cho những đối tượng giống như thần thánh, những người ѕẽ ban ơn cho bạn nếu bạn tôn thờ thực tế, Phật Thích Ca được cho là người chỉ trích ᴠiệc thờ cúng. Trong một bản kinh Sigaloᴠada Sutta, Digha Nikaуa 31, Ngài gặp một thanh niên tham gia thực hành thờ cúng Vệ Đà. Đức Phật nói ᴠới anh ta rằng điều quan trọng hơn là phải ѕống một cách có trách nhiệm, có đạo đức hơn là tôn thờ bất cứ điều có thể nghĩ đến ѕự thờ phượng nếu bạn thấу các Phật tử cúi đầu trước những bức tượng Phật, nhưng có một điều gì đó khác đang хảу ra. Trong một ѕố trường phái Phật giáo, lạу Phật ᴠà cúng dường là những biểu hiện của ᴠiệc rũ bỏ lối ѕống ích kỷ, bản ngã ᴠà cam kết thực hành lời dạу của Đức Thích Ca đã dạу những gì?Khi Phật Thích Ca giác ngộ, Ngài cũng nhận ra một điều khác rằng những gì Ngài nhận thức nằm ngoài kinh nghiệm thông thường đến nỗi không thể giải thích được hoàn toàn. Vì ᴠậу, thaу ᴠì dạу mọi người những gì nên tin, Ngài dạу họ tự giác ngộ cho chính lý nền tảng của Phật giáo là Tứ diệu đế . Rất ngắn gọn, Sự thật đầu tiên nói ᴠới chúng ta rằng cuộc ѕống là dukkha, nó thường được dịch là “đau khổ”, nhưng nó cũng có nghĩa là “căng thẳng” hoặc “không thể thỏa mãn.”Sự thật thứ hai cho chúng ta biết đau khổ có nguуên nhân. Nguуên nhân trước mắt là ѕự thèm muốn, ᴠà ѕự thèm muốn đến từ ᴠiệc không hiểu thực tế ᴠà không biết chính mình. Bởi ᴠì chúng ta hiểu ѕai ᴠề bản thân, chúng ta đang chìm trong lo lắng ᴠà thất ta trải nghiệm cuộc ѕống một cách hạn hẹp, tự cao tự đại, trải qua cuộc ѕống khao khát những thứ mà chúng ta nghĩ rằng ѕẽ khiến chúng ta hạnh phúc. Nhưng chúng ta chỉ tìm thấу ѕự hài lòng trong một thời gian ngắn, ᴠà ѕau đó ѕự lo lắng ᴠà thèm muốn lại bắt thật thứ ba cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể biết nguуên nhân của đau khổ ᴠà được giải phóng khỏi ᴠòng хoáу của căng thẳng ᴠà thèm muốn. Tuу nhiên, nếu bạn chỉ áp dụng niềm tin Phật giáo ѕẽ không thực hiện được điều nàу. Sự giải thoát phụ thuộc ᴠào cái nhìn ѕâu ѕắc của chính mình ᴠề nguồn gốc của đau khổ. Sự thèm muốn ѕẽ không ngừng cho đến khi bạn tự mình nhận ra điều gì gâу ra thật thứ tư cho chúng ta biết rằng giác ngộ có được nhờ thực hành Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo có thể được giải thích như một phác thảo của 8 lĩnh ᴠực thực hành bao gồm thiền định, chánh niệm ᴠà ѕống một cuộc ѕống đạo đức mang lại lợi ích cho người khác – ѕẽ giúp chúng ta ѕống hạnh phúc hơn ᴠà tìm thấу trí tuệ của ѕự giác ngộ là gì?Mọi người thường nghĩ rằng để đạt giác ngộ là luôn luôn hạnh phúc, nhưng không phải ᴠậу. Và ᴠiệc đạt được giác ngộ ᴠà hạnh phúc không nhất thiết phải хảу ra cùng một lúc. Rất đơn giản, giác ngộ được định nghĩa là nhận thức thấu đáo bản chất thực ѕự của thực tại, ᴠà của chính chúng ngộ cũng được mô tả là nhận ra Phật tính, mà trong Kim Cương thừa ᴠà Phật giáo Đại thừa là bản chất cơ bản của tất cả chúng ѕinh. Nói cách khác, ѕự giác ngộ luôn luôn hiện hữu, cho dù chúng ta có nhận thức được điều đó haу đó, ѕự giác ngộ không phải là một phẩm chất mà một ѕố người có ᴠà những người khác thì không. Nhận ra giác ngộ là nhận ra những gì đã có. Chỉ là hầu hết chúng ta đều bị lạc trong ѕương mù ᴠà không thể nhìn thấу nó.
Siddhārtha Gautama tiếng Phạn सिद्धार्थ गौतम, chữ Hán 悉達多瞿曇, phiên âm Hán-Việt Tất-đạt-đa Cồ-đàm hay Gautama Buddha, còn được gọi là Phật Shakyamuni tiếng Phạn शाक्यमुनि, chữ Hán 釋迦牟尼, phiên âm Hán-Việt Thích-ca Mâu-ni, trong khẩu ngữ thường gọi là Phật, Bụt, Phật Tổ, Đức Thế Tôn hoặc Đức Phật là nhà tu hành, nhà truyền giáo, nhà thuyết giảng, nhà triết học và đạo sư sống ở Ấn Độ cổ đại, người sáng lập Phật giáo. Sinh ra ở vùng đất ngày nay là Nepal nhưng khoảng thời gian quan trọng nhất của Tất-đạt-đa gắn liền với các khu vực mà ngày nay là Ấn Độ khi ông đi xuống phía Đông và Nam để truyền đạo. Tín đồ Phật giáo xem ông là người đầu tiên hoàn toàn giác ngộ để đạt niết bàn thành Phật. Một phần của loại bài vềPhật giáo Lịch sử Niên đại phát triển Thích-ca Mâu-ni Thập đại đệ tử Phật giáo Nguyên thủy Đại hội kết tập Bộ phái Phật giáo Phật giáo Hy Lạp hóa Phật giáo qua Con đường tơ lụa Phật giáo suy tàn ở Ấn Độ Phong trào Phật giáo hiện đại Khái niệm Pháp Pháp luân Trung đạo Tứ diệu đế Bát chính đạo Ngũ uẩn Vô thường Khổ Vô ngã Duyên khởi Giới Tính Không Nghiệp Tái sinh Luân hồi Vũ trụ học Phật giáo Kinh điển Kinh văn sơ kỳ Kinh văn Đại thừa Tam tạng Kinh điển Pāli Kinh văn Tạng ngữ Kinh văn Hán ngữ Tam học Tam bảo Quy y Giải thoát Ngũ giới Ba-la-mật-đa Thiền Tư tưởng Pháp cúng Công đức Niệm Chánh niệm Bát-nhã Tứ vô lượng Tam thập thất bồ-đề phần Tu học Cư sĩ Tụng kinh Hành hương Trai thực Niết-bàn Giác ngộ Tứ thánh quả A-la-hán Duyên giác Bồ tát Phật Tông phái Thượng tọa bộ Đại thừa Kim cương thừa Thiền tông Tịnh độ tông Ở các nước Ấn Độ Sri Lanka Campuchia Thái Lan Myanmar Lào Trung Quốc Việt Nam Đài Loan Nhật Bản Hàn Quốc Triều Tiên Malaysia Tây Tạng Bhutan Mông Cổ Khác Trung Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại dương, Hoa Kỳ, Nga, Nepal, Tân Cương, Indonesia, Brunei ... Cổng thông tin Phật giáoxts Theo kinh Phật cùng sử liệu thì ông vốn xuất thân là một thái tử thuộc vương tộc Gautama của tiểu quốc Shakya ở vùng Kapilavastu. Tuy nhiên, ông sớm từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để lên đường đi tìm chánh đạo. Sau 6 năm tu đạo, ông đạt được giác ngộ chính pháp vào năm 35 tuổi và dành tiếp 45 năm còn lại cho việc truyền bá, giảng dạy giáo lý Phật pháp trên khắp những khu vực ở Đông và Nam tiểu lục địa Ấn Độ.[4][5] Tất-đạt-đa đề xướng con đường Trung đạo - tức vừa từ bỏ đời sống xa hoa nhưng cũng không đi theo lối tu hành ép xác khổ hạnh vốn rất thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó.[6] Giáo pháp của ông đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của giáo lý đạo Phật ngày nay.[7][5] Ông được các Phật tử coi là một bậc đạo sư, người giác ngộ tự giải thoát bản thân khỏi quy luật sinh tử luân hồi đồng thời hiểu rõ được bản chất của mọi sự vật sự việc. Chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của ông được nhiều thế hệ học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn. Hàng loạt bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua nhiều thế hệ và dần bắt đầu được viết thành sách 200 năm sau đó.
Nhân vật Phật giáo🞄 02/5/2023 Có phải Hoàng hậu Ma Da hết phước khi sinh Đức Phật nên mới qua đời? Bà là người như thế nào? Liệu có phải là người mẹ đặc biệt nhất thế gian như trong kinh điển thường nói? Nhân vật Phật giáo 🞄 02/5/2023 Có phải Hoàng hậu Ma Da hết phước khi sinh Đức Phật nên mới qua đời? Bà là người như thế nào? Liệu có phải là người mẹ đặc biệt nhất thế gian như trong kinh điển thường nói? Bài viết🞄 09/4/2023 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp là một vị Tỳ-kheo gương mẫu với phẩm hạnh đầu đà đệ nhất trong 10 vị đại đệ tử của Đức Phật. Bài viết 🞄 09/4/2023 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp là một vị Tỳ-kheo gương mẫu với phẩm hạnh đầu đà đệ nhất trong 10 vị đại đệ tử của Đức Phật. Bài viết🞄 09/4/2023 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp được biết đến là vị Thánh tăng đệ nhất đầu đà trong 10 đại đệ tử của Đức Phật. Khi còn ở thế tục, Ngài có tên là Tất Bát La Da Na. Bài viết 🞄 09/4/2023 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp được biết đến là vị Thánh tăng đệ nhất đầu đà trong 10 đại đệ tử của Đức Phật. Khi còn ở thế tục, Ngài có tên là Tất Bát La Da Na. Bài viết🞄 14/12/2022 Thiên Ma Ba Tuần, hay còn gọi là Ma Vương hoặc vua ma. Chúng được coi là thành phần chuyên cản phá thiện Pháp, làm cho thiện Pháp không thể tăng trưởng... Bài viết 🞄 14/12/2022 Thiên Ma Ba Tuần, hay còn gọi là Ma Vương hoặc vua ma. Chúng được coi là thành phần chuyên cản phá thiện Pháp, làm cho thiện Pháp không thể tăng trưởng... Nhân vật Phật giáo🞄 26/11/2022 Cuộc đời và sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân gắn liền với những đóng góp to lớn cho dân tộc, cho đạo Pháp... Nhân vật Phật giáo 🞄 26/11/2022 Cuộc đời và sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân gắn liền với những đóng góp to lớn cho dân tộc, cho đạo Pháp... Bài viết🞄 17/11/2022 Tại sao thông qua bài kệ, người đọc có thể hiểu và áp dụng được những phương pháp tu tâm ngay giữa chốn trần gian phiền não?... Bài viết 🞄 17/11/2022 Tại sao thông qua bài kệ, người đọc có thể hiểu và áp dụng được những phương pháp tu tâm ngay giữa chốn trần gian phiền não?... Bài viết🞄 17/11/2022 Đức vua Trần Nhân Tông là một nhà quân sự lỗi lạc, một vị anh quân cao quý, Ngài đã hai lần lãnh đạo quân dân đánh thắng giặc Nguyên Mông... Bài viết 🞄 17/11/2022 Đức vua Trần Nhân Tông là một nhà quân sự lỗi lạc, một vị anh quân cao quý, Ngài đã hai lần lãnh đạo quân dân đánh thắng giặc Nguyên Mông... Nhân vật Phật giáo🞄 03/4/2022 Niêm hoa vi tiếu là một câu chuyện đặc biệt trong Phật giáo, đây là nguồn khởi duyên to lớn và thù thắng cho việc Ngài Ca Diếp lưu giữ pháp hạnh đầu đà lưu truyền nơi thế gian. Nhân vật Phật giáo 🞄 03/4/2022 Niêm hoa vi tiếu là một câu chuyện đặc biệt trong Phật giáo, đây là nguồn khởi duyên to lớn và thù thắng cho việc Ngài Ca Diếp lưu giữ pháp hạnh đầu đà lưu truyền nơi thế gian. Nhân vật Phật giáo🞄 28/3/2022 Này A Nan, ông Tu Bạt Đà La tuy là ngoại đạo, mà thiện căn của ông ấy thành thục, duy có Như Lai biết được. Vậy nên, sau khi Như Lai nhập Niết bàn nếu có người ngoại đạo muốn xin xuất gia trong giáo Pháp của Như Lai Nhân vật Phật giáo 🞄 28/3/2022 Này A Nan, ông Tu Bạt Đà La tuy là ngoại đạo, mà thiện căn của ông ấy thành thục, duy có Như Lai biết được. Vậy nên, sau khi Như Lai nhập Niết bàn nếu có người ngoại đạo muốn xin xuất gia trong giáo Pháp của Như Lai Nhân vật Phật giáo🞄 16/3/2022 Angulimala khẩn cầu “Kính lạy Đức Thế Tôn! Con đã biết tội của mình rồi! Ngài đã đích thân ngự đến khu rừng này là vì hạnh phúc an vui lâu dài cho chính con. Ngài đã từ bi giúp con Nhân vật Phật giáo 🞄 16/3/2022 Angulimala khẩn cầu “Kính lạy Đức Thế Tôn! Con đã biết tội của mình rồi! Ngài đã đích thân ngự đến khu rừng này là vì hạnh phúc an vui lâu dài cho chính con. Ngài đã từ bi giúp con Nhân vật Phật giáo🞄 18/01/2022 Nhân kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo 08/12/âm lịch, chùa Ba Vàng xin gửi tới quý Phật tử vở hoạt kịch “Bát cháo sữa của nàng Sujata và sự kiện Đức Phật thành đạo” Nhân vật Phật giáo 🞄 18/01/2022 Nhân kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo 08/12/âm lịch, chùa Ba Vàng xin gửi tới quý Phật tử vở hoạt kịch “Bát cháo sữa của nàng Sujata và sự kiện Đức Phật thành đạo” Nhân vật Phật giáo🞄 03/01/2022 Trong đêm thứ 49 Đức Phật thành đạo Thiên ma Ba Tuần đã đến quấy phá để cản trở Ngài đạt đạo. Nhưng với sự kiên định vững vàng và năng lực của 30 pháp hành Ba-la-mật, Ngài đã chiến thắng cả nội ma Nhân vật Phật giáo 🞄 03/01/2022 Trong đêm thứ 49 Đức Phật thành đạo Thiên ma Ba Tuần đã đến quấy phá để cản trở Ngài đạt đạo. Nhưng với sự kiên định vững vàng và năng lực của 30 pháp hành Ba-la-mật, Ngài đã chiến thắng cả nội ma Nhân vật Phật giáo🞄 30/9/2021 Nhờ tài sản ấy mà chùa Ba Vàng mới trở thành nơi hoằng dương chính Pháp rộng lớn như ngày hôm nay Nhân vật Phật giáo 🞄 30/9/2021 Nhờ tài sản ấy mà chùa Ba Vàng mới trở thành nơi hoằng dương chính Pháp rộng lớn như ngày hôm nay Nhân vật Phật giáo🞄 09/9/2021 Tiền thân của Đức Địa Tạng Bồ Tát trong vô số kiếp quá khứ tùy theo nhân duyên và thời đại khác nhau mà phát những lời đại nguyện cứu độ khắp tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp sinh tử luân hồi. Nhân vật Phật giáo 🞄 09/9/2021 Tiền thân của Đức Địa Tạng Bồ Tát trong vô số kiếp quá khứ tùy theo nhân duyên và thời đại khác nhau mà phát những lời đại nguyện cứu độ khắp tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp sinh tử luân hồi. Nhân vật Phật giáo🞄 13/8/2021 Trong một kiếp, tiền thân của Bồ tát Địa Tạng vì thương mẹ, nghĩ đến quả báo khổ đau mẹ phải gánh chịu mà mở rộng tâm từ bi thương tưởng đến tất cả chúng sinh, phát lời đại nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh Nhân vật Phật giáo 🞄 13/8/2021 Trong một kiếp, tiền thân của Bồ tát Địa Tạng vì thương mẹ, nghĩ đến quả báo khổ đau mẹ phải gánh chịu mà mở rộng tâm từ bi thương tưởng đến tất cả chúng sinh, phát lời đại nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh Nhân vật Phật giáo🞄 12/8/2021 Quang Mục - tiền thân của Bồ Tát Địa Tạng Vương trong một kiếp vì thương xót người mẹ bị đọa địa ngục mà phát lời đại nguyện rộng lớn Nhân vật Phật giáo 🞄 12/8/2021 Quang Mục - tiền thân của Bồ Tát Địa Tạng Vương trong một kiếp vì thương xót người mẹ bị đọa địa ngục mà phát lời đại nguyện rộng lớn
Hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, Phật tử khắp nơi lại thành tâm làm lễ kỷ niệm ngày xuất gia của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Một niềm tin vĩ đại mà Đức Phật đã cho tất cả chúng sanh là “Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật”. >>Những giáo lý Phật giáo nên đọc Sau khi thái tử Tất Đạt Đa giành chiến thắng vang dội cả về võ thuật lẫn thể thao trong tất cả các cuộc thi tài kén chọn phò mã của nàng công chúa vô cùng kiều diễm, thanh cao và hiền thục Da Du Đà La, Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng vui mừng và tổ chức một lễ thành hôn long trọng, xa hoa theo đúng nghi thức hoàng gia cho Thái tử. Lúc đó, Đức Phật mới mười sáu tuổi với dung mạo tuấn tú phi phàm và phong thái thanh lịch, hòa nhã. Cuộc sống vương quyền giàu sang Sau khi thái tử Tất Đạt Đa giành chiến thắng vang dội cả về võ thuật lẫn thể thao trong tất cả các cuộc thi tài kén chọn phò mã của nàng công chúa vô cùng kiều diễm, thanh cao và hiền thục Da Du Đà La, Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng vui mừng và tổ chức một lễ thành hôn long trọng, xa hoa theo đúng nghi thức hoàng gia cho Thái tử. Ảnh minh họa Thời đó, các thành viên hoàng tộc, đặc biệt là vị thái tử sẽ kế thừa ngôi vua, thường kết hôn rất sớm, vì vậy Thái tử Tất Đạt Đa không có lựa chọn nào khác ngoài vâng lệnh phụ vương. Theo tục lệ cổ truyền, một vị vua được quyền có nhiều thê thiếp, vì vậy phụ vương của Ngài đã tuyển lựa thêm cho Thái tử những phi tần xinh đẹp thuộc giai cấp quý tộc như nàng mrigaja Ridagkye, nàng gopa Satshoma và nàng yashakhi Dragdenma và ban cho Thái tử sáu nghìn cung phi mỹ nữ. Quốc vương Tịnh Phạn muốn con trai của mình được thỏa mãn tất cả mọi ý thích, ước muốn, như vậy Thái tử sẽ hài lòng với địa vị tôn quý và thụ hưởng mọi giàu sang, dục lạc thế gian, đồng thời canh giữ cẩn mật khiến Thái tử không có cơ hội từ bỏ đời sống vương giả xa hoa để đi theo chí nguyện tâm linh thúc giục tìm chân lý của sự sống. Lúc đó, sống trong cung điện tráng lệ với hàng ngàn cung phi mỹ nữ, thái tử Tất Đạt Đa đáp ứng mọi mong chờ của mọi người ở một vương tử mẫu mực. Ngài chăm lo cho công chúa Da Du Đà La, chính thê của Ngài, cùng tất cả phi tử của mình với tình yêu thương, lòng từ ái bình đẳng, vô phân biệt. Mặc dù không nhìn thấy bất kỳ cảnh khổ sở, đau đớn nào, xung quanh Thái tử chỉ có những cảnh sắc vui tươi, cao lương mỹ vị, nhã nhạc du dương, hoa viên thơm ngát và Ngài được xưng tán, chúc tụng với những ngôn từ cung kính, êm ái của các phi tử, quần thần, Thái tử Tất Đạt Đa vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ước nguyện duy nhất vốn sẵn có trong mình là được từ bỏ cuộc sống hoàng gia để hoàn thành một điều gì đó thực sự ý nghĩa vì lợi ích hết thảy chúng sinh. Mười ba năm sống cùng các phi tử vô cùng dịu dàng và quyến rũ, nhưng Thái tử cảm thấy cuộc sống này thật vô nghĩa nếu không đạt giác ngộ. Trong suốt mười ba năm đó, mặc dù được phụ vương chăm lo, không thiếu thốn bất kỳ khoái lạc vật chất gì, nhưng càng ngày Thái tử càng tò mò muốn biết xem dân chúng lao động, sinh sống ra sao. Mười ba năm sống cùng các phi tử vô cùng dịu dàng và quyến rũ, nhưng Thái tử cảm thấy cuộc sống này thật vô nghĩa nếu không đạt giác ngộ. Ảnh minh họa Bốn cảnh màThái tử Tất Đạt Đa thấy Vào một ngày đẹp trời, Thái tử thực hiện một chuyến dạo chơi bằng xe ngựa dọc theo khu vườn thượng uyển lộng lẫy và rực rỡ sắc hoa cùng với đoàn tùy tùng vài ngàn người. Thoạt tiên, có vẻ như đây chỉ là một chuyến dạo mát thông thường trong một buổi chiều nắng đẹp, nhưng sau đó Thái tử chứng kiến một quang cảnh khác thường làm Ngài suy tư về bản chất của đời sống con người. Đặc biệt, Ngài bắt đầu nhận ra đời sống trong hoàng cung chẳng khác nào ngục tù không lối thoát. Thái tử nhận thấy những người thuộc dòng dõi quý tộc luôn căng thẳng, lo lắng vì bảo vệ của cải, địa vị và họ không hề nghĩ đến ai, chỉ chăm chăm quan tâm đến lợi ích của gia đình. Vào một ngày đẹp trời, Thái tử thực hiện một chuyến dạo chơi bằng xe ngựa dọc theo khu vườn thượng uyển lộng lẫy và rực rỡ sắc hoa cùng với đoàn tùy tùng vài ngàn người. Ảnh minh họa Đầu tiên, Đức Phật nhìn thấy một ông già rách rưới bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, gầy gò như một bộ xương khô. Thân hình của người đó run rẩy theo từng bước chân, và khi ông ta nói thì chỉ là những từ bắp bắp không thể hiểu nổi. Thái tử choáng voáng khi thấy hình ảnh một con người thê thảm như vậy. Ngài nhìn lại bản thân mình, những ngón tay nuột nà, trẻ trung được trang điểm bằng ngọc ngà, châu báu và Ngài trầm tư suy ngẫm, liệu có một ngày mình cũng sẽ có cùng số phận như con người đáng thương kia tóc sẽ bạc, răng sẽ rụng, thân thể sẽ gày còm già yếu phải chống gậy khi bước đi, và đầu óc sẽ lẩn thẩn, mụ mẫm. Đầu tiên, Đức Phật nhìn thấy một ông già rách rưới bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, gầy gò như một bộ xương khô. Ảnh minh họa Khi Thái tử Tất Đạt Đa đi ra ngoài hoàng cung, cảnh tượng thứ hai Ngài nhìn thấy là một người đàn ông ốm yếu, khuôn mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc, toàn thân đầy những vết thương rỉ máu, mưng mủ lở loét như một xác chết đang rữa nát, bốc mùi hôi thối. Thái tử chưa bao giờ thấy một người ốm bệnh trong hoàng cung. Ngài suy ngẫm, thân thể con người được cấu thành bởi máu và thịt nên không thể tránh khỏi bệnh tật, đau ốm và cuối cùng sẽ bị rữa nát. Thậm chí, mặc dù thân thể của những thành viên trong hoàng tộc luôn được phục sức bằng lụa là gấm vóc, được tô điểm bằng ngọc ngà châu báu nhưng họ cũng như người đàn ông này, vẫn phải chịu đựng bệnh tật và đau đớn. Vậy thì dù ngự tại cung vàng điện ngọc trong giàu sang phú quý, cung tần mỹ nữ vây quanh, thụ hưởng vô số dục lạc thế gian thì cũng có ý nghĩa gì? Và thế là Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu trăn trở làm cách nào có thể đạt được trí tuệ toàn giác, thấu hiểu về bản chất của sự sống để thoát khỏi đau khổ, bệnh tật. Cảnh tượng thứ ba Ngài chứng kiến là một xác chết được khâm liệm bằng mảnh vải và rắc bên trên là những tràng hoa như một lời vĩnh biệt người khuất bóng, xung quanh là bà con họ hàng rũ rượi than khóc thảm thiết. Người đứng kẻ ngồi, vò đầu đấm ngực, kêu khóc than vãn họ không thể tin rằng thần chết đã cướp mất người thân yêu của mình, người tưởng chừng như không bao giờ chia lìa, rời xa họ. Tâm trí họ tràn ngập sự đau khổ, mất mát, họ than khóc và kêu gào trong nỗi bi thương cùng cực. Khi nghe thấy những tiếng than khóc và chứng kiến cảnh mọi người đau đớn trước nỗi khổ sinh tử phân ly, Thái tử cảm nhận nỗi đau ấy thật là cùng cực không thể nào chịu nổi. Toàn thân Ngài run rẩy và nước mắt tuôn trào. Ngài chẳng biết làm gì khác ngoài chia sẻ nỗi buồn và niềm thương tiếc đối với những người đang đau khổ vì mất mát người thân. Cảnh tượng thứ ba Ngài chứng kiến là một xác chết được khâm liệm bằng mảnh vải và rắc bên trên là những tràng hoa như một lời vĩnh biệt người khuất bóng, xung quanh là bà con họ hàng rũ rượi than khóc thảm thiết. Ảnh minh họa Cảnh tượng thứ tư Thái tử nhìn thấy là một vị tăng khoác tấm y vàng đơn sơ, giản dị, trên tay cầm bình bát, bước đi trong tĩnh lặng, tự tại đến nỗi như thể sự an lành thấm nhuần mặt đất theo từng bước chân ông, như thế trả về cho Đất Mẹ mọi thứ được ban tặng vô cùng hào phóng. Thật ra, vị tăng sỹ đặc biệt này được một sứ giả từ cõi thiên hóa hiện ra, để khích lệ Ngài từ bỏ đời sống vương giả. Khi ngắm nhìn vị tăng, Thái tử cảm thấy từ sâu thẳm lòng mình tràn ngập niềm an lành, hỷ lạc và Ngài tự nhủ cuộc sống xuất gia thật lý tưởng và cao thượng, nếu Ngài có thể từ bỏ những tham vọng thế tục và dâng hiến trọn đời theo đuổi chí nguyện tâm linh. Sau khi chứng kiến bốn cảnh tượng khác nhau, Thái tử Tất Đạt Đa hỏi những người hầu cận rằng có bao nhiêu người trong vương quốc phải chịu đau khổ như vậy. Họ thưa rằng không ai có thể tránh khỏi cảnh sinh già bệnh chết. Song họ cũng không biết đến một vị tu sỹ nào trong vương quốc có thể hoàn toàn từ bỏ mọi mục đích vị kỷ để phục vụ lợi ích tha nhân. Trên đường trở về hoàng cung, Thái tử nhìn thấy những người nông dân mặt mũi lấm lem, đầu tóc bê bết bụi bặm, đang cực nhọc lao động trên những cánh đồng. Chân tay của họ nứt nẻ và chảy máu, nhưng họ dường như không chú ý tới sự đau đớn đó. Da họ phồng rộp và bị thiêu đốt trong ánh nắng gay gắt vì phải làm việc hàng ngày dưới mặt trời chói chang. Dù thân thể như que củi, gầy còm và yếu ớt, nhưng để kiếm kế sinh nhai, họ cùng với đàn bò vẫn phải vất vả cày bừa, gieo trồng trên những thửa ruộng. Thái tử nhận ra họ sắp chết vì đói và khát. Quá thương xót những người nông dân và đàn bò lao lực, Ngài tặng họ rất nhiều đồ ăn thức uống và các loại nước bổ dưỡng. Ngài cho hầu cận xoa dầu và thuốc vào cổ các chú bò để chữa trị những vết thương trày trụa do phải mang ách kéo cày vô cùng nặng nhọc. Cuối chặng đường trở về hoàng cung, mặt trời tỏa nắng gay gắt, Thái tử và đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ ngơi dưới bóng mát của một cây cổ thụ có tán lá tỏa rộng. Vì chuyến đi của Thái tử kéo dài khá lâu nên Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng lo lắng, bèn cưỡi voi cùng với binh lính hộ vệ đi tìm con trai mình. Khi Quốc vương tìm thấy Thái tử đang an bình nghỉ ngơi trong bóng mát của cây cổ thụ, Quốc vương nhận thấy rằng mặc dù lúc đó mặt trời đã di chuyển sang hướng khác, nhưng bóng cây vẫn ở nguyên tại chỗ, lặng lẽ tỏa bóng mát cho Thái tử. Thấy hiện tượng kỳ diệu này, Quốc vương liền cúi đầu đỉnh lễ con trai mình. Ông cảm thấy ngay cả những vật vô tri vô giác như cây cối cũng sẵn sàng trợ giúp Thái tử, đây là dấu hiệu cho thấy Đức Phật đã tích lũy được vô lượng công đức và hoàn toàn xứng đáng để nhận sự kính trọng từ chính bậc phụ vương. Trong khi cả đoàn tùy tùng đang ngủ thiếp đi dưới bóng cây cổ thụ, người hầu cận riêng của Thái tử tâu lại cho Quốc vương về bốn cảnh tượng Thái tử đã nhìn thấy ở ngoài hoàng cung và gây những ảnh hưởng bất thường, mạnh mẽ cho Thái tử. Thái tử thấu hiểu sâu sắc những cảnh tượng đau khổ và vô cùng thương xót chúng sinh. Anh ta cũng kể cho Quốc vương rằng tấm y khoác của vị tu sĩ khổ hạnh đó, người đã từ bỏ cuộc sống thế tục, đã lôi cuốn Thái tử như thế nào. Nghe thấy như vậy, nỗi lo sợ rằng con trai mình sẽ rời bỏ hoàng cung và trở thành tu sĩ như một nhà thông thái Bà la môn đã tiên đoán trước vốn vẫn ẩn náu trong lòng Quốc vương Tịnh Phạn lại trỗi dậy. Ngài ra lệnh cho binh lính hầu cận canh phòng Thái tử cẩn mật hơn và chu cấp cho con trai mình tất cả tiện nghi, lạc thú, thậm chí Ngài còn tuyển thêm phi tần cho Thái tử, hy vọng rằng những điều này sẽ cuốn hút Thái tử an lòng hưởng thụ đời sống vương giả mãi mãi với nội cung gồm sáu mươi nghìn cung tần mỹ nữ! Cuối buổi chiều, Thái tử và đoàn tùy tùng tỉnh giấc, rời khỏi tán cây mát mẻ và tiếp tục lên đường trở về hoàng cung. Họ đi ngang qua một nghĩa địa, nơi có hàng trăm thi thể nằm la liệt trên mặt đất, lũ chó sói, chó rừng và chim kền kền đang tranh giành xác chết, chúng ăn thịt, liếm máu, gặm xương, lôi móc nội tạng người chết. Thái tử Tất Đạt Đa kinh hoàng và đau xót khi nhìn thấy sự mong manh của thân thể con người và sự ngắn ngủi của một kiếp sống. Tâm ý Ngài đã hoàn toàn chuyển biến. Bất chấp sự giàu sang, lạc thú đang chờ đợi nơi hoàng cung, trong lòng Thái tử chỉ có một nguyện ước duy nhất là rời bỏ đời sống vương giả để trở thành một vị tu sĩ tìm đạo chân chính. Thái tử tin rằng nếu trở thành một tu sỹ đạo hạnh, Ngài sẽ có khả năng giúp ích cho chúng sinh nhiều hơn là trở thành một vị vua quyền lực mà không biết khổ đau thực sự của thế gian. Kể từ ngày đó, Thái tử không còn cảm thấy vui thú gì với cuộc sống vương giả nữa. Nguồn
hoàng tử tất đạt đa