Thêm. Gốc từ. Khớp. tất cả. chính xác. bất kỳ. từ. Nhóm người gây ra ca mổ này đã bị buộc tội cố ý gây thương tích và mua bán cơ quan nội tạng bất hợp pháp . The group behind the operation have been charged with causing intentional injury and illegal organ trading . Hệ quả pháp lý xảy ra. Hợp đồng thương mại đóng một vai trò quan trọng trong việc ghi nhận sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ. Tuy nhiên, do lý do chủ quan hoặc khách quan mà hợp đồng thương mại giữa Tội vô ý làm chết người 1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vướt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Vô cảm đang trở thành vấn đề lớn đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. Vô cảm là gì? Vô cảm là trạng thái cảm xúc đặc trưng bởi sự thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến những sự việc, vấn đề xảy ra xung quanh - đặc biệt là những sự việc gây ra tổn thương về thể chất và tinh thần cho con Giáo án cũng dạy trẻ hiểu được thế nào là tai nạn thương tích không chủ đích: là tai nạn thương tích do vô ý gây ra. Trong giáo án có phân loại rõ ràng các loại tai nạn thương tích thường gặp với bé. Và mong muốn bé có thể ghi nhớ chúng để tránh sau này. Đó là những Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134, Chương xrv Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Con người là vô'n quý, là giá trị cao nhất của xã hội, quyết định sự tồn tại và phát triển dFqXqj. Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi vi phạm các quy tắc trong cuộc sống về đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe vì quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã làm người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe. Vậy tội vô ý gây thương tích sẽ chịu trách nhiệm như thế nào? Luật sư X mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ quy định pháp luật về nội dung nêu trên Căn cứ pháp lý Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Khái niệm vô ý gây thương tích Vô ý gây thương tích có thể được hiểu là hành vi do vô ý hoặc quá tự tin dẫn tới hậu quả ảnh hưởng tới người khác Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định phân biệt tội vô ý gây thương tích thành 2 trường hợp sau Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có nghĩa là hành vi của một người do quá tự tin hoặc cẩu thả dẫn tới gây thương tích hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người khác. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do không tuân thủ, coi trọng các quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính. Tội vô ý gây thương tích sẽ chịu trách nhiệm như thế nào? Tội vô ý gây thương tích được quy định tại điều 138, 139 tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như sau Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm a Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. 3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Điều 139. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. 3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Khung hình phạt tội vô ý gây thương tích Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn thương cho sức khỏe của người khác – Nếu tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% phạt cảnh cáo, phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm – Phạt phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm trong trường hợp + Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; + Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. – Phạt tù từ 1 năm đến 3 năm nếu phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên. Các yếu tố cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Khách thể của tội phạm Hành vi phạm tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặt khách quan a Về hành vi Có hành vi vi phạm dẫn đến gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác. b Hậu quả Hành vi nêu trên đã gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này. Do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu người bị hại có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, căn cứ để xác định có hành vi phạm tội hay không trong trường hợp do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tỷ lệ thương tật của người bị hại. Vì vậy, trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định pháp ý đối với nạn nhân. Mặt chủ quan của tội phạm Người thực hiện hành vi này với lỗi vô ý vì cẩu thả hoặc vì quá tự tin Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt, đó là những người được giao thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, người được giao thực hiện nhiệm vụ trong quản lý, điều hành cơ quan, tổ chức có hoặc không có chức vụ, quyền hạn. Mời bạn xem thêm bài viết Cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người bị xử lý thế nào?Dịch vụ luật sư bào chữa vụ án cố ý gây thương tíchHành vi dùng dao gây thương tích 2 mẹ con bạn gái bị xử lý ra sao? Trên đây là quan điểm của Luật sư X về vấn đề “Tội vô ý gây thương tích sẽ chịu trách nhiệm như thế nào?”. Để biết thêm thông tin chi tiết hoặc giải đáp những vấn đề pháp lý khó khăn; vui lòng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật hoặc liên hệ hotline Câu hỏi thường gặp Thế nào là vô ý làm chết người?Vô ý làm chết người là hành vi của một người màKhông thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước; hoặcThấy trước hành vi của mình có thể gây ra chết người nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra. Thế nào là tội cố ý gây thương tích?Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây hại đến sức khỏe người khác, được xác định bằng thương tích cụ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người. Cho tôi hỏi Vô ý gây thương tích cho người khác có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Mong được tư vấn. Vô ý gây thương tích cho người khác bị phạt bao nhiêu tiền? Khi nào người có hành vi vô ý gây thương tích cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Người 15 tuổi có hành vi vô ý gây thương tích mà tỷ lệ tổn thương gây ra cho nạn nhân lớn hơn 31% thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Vô ý gây thương tích cho người khác bị phạt bao nhiêu tiền?Điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính với hành vi vô ý gây thương tích cho người khác như sauVi phạm quy định về trật tự công cộng1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Gây mất trật tự công cộng ở nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, thương mại, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư hoặc ở những nơi công cộng khác, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2, điểm b khoản 5 Điều này;b Thả rông động vật nuôi trong đô thị hoặc nơi công cộng;c Để vật nuôi, cây trồng hoặc các vật khác xâm lấn lòng đường, vỉa hè, vườn hoa, sân chơi, đô thị, nơi sinh hoạt chung trong khu dân cư, khu đô thị;d Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;đ Vứt rác hoặc bỏ bất cứ vật gì khác lên tường rào và khu vực liền kề với mục tiêu bảo vệ;e Chăn, thả gia súc, gia cầm trong chung Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích gây mất trật tự công cộng;b Tổ chức, tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;c Để động vật nuôi gây thương tích hoặc gây thiệt hại tài sản cho tổ chức, cá nhân khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;...Khoản 2 Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định như sauQuy định về mức phạt tiền tối đa, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính...2. Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá đó, hành vi vô ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với cá nhân vi Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với tổ chức vi ý gây thương tích cho người khác có bị xử phạt vi phạm hành chính không? Hình từ InternetKhi nào người có hành vi vô ý gây thương tích cho người khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự?Điều 138 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm g khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sauTội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năma Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 các quy định nêu trên, người có hành vi vô ý gây thương tích cho người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở 15 tuổi có hành vi vô ý gây thương tích mà tỷ lệ tổn thương gây ra cho nạn nhân lớn hơn 31% thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sauTuổi chịu trách nhiệm hình sự...2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật quy định nêu trên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người người 15 tuổi có hành vi vô ý gây thương tích mà tỷ lệ tổn thương gây ra cho nạn nhân lớn hơn 31% sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình trọng! Đi đến trang Tra cứu hỏi đáp về Tội vô ý gây thương tích 261 lượt xem Lưu bài viết Bài viết này có hữu ích với bạn không? Phụ lục bài viết1 Hiểu như thế nào là vô ý gây thương tích?2 Quy định của pháp luật về tội vô ý gây thương tích3 Một số câu hỏi thường Vô ý gây thương tích có tỷ lệ thương tật dưới 31% thì xử lý như thế nào?4 Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Ngày nay, bởi diễn biến của cuộc sống ngày càng phức tạp nên số lượng tội phạm liên quan đến các tội cố ý gây thương tích hay vô ý gây thương tích ngày càng tăng và diễn biến phức tạp. Vậy hiểu như thế nào về tội vô ý gây thương tích cho đúng? Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây để nhận biết về hành vi này. Bài viết được thực hiện bởi Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn 24/7 1900 6198 Vô ý gây thương tích hay nói cách khác chính là hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính. Người vi phạm do sự cẩu thả hoặc vì quá tự tin nên gây ra hậu quả làm cho người khác bị thương tích, bị tổn hại về mặt sức khỏe. Dấu hiệu cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bao gồm i Khách thể của tội vô ý gây thương tích là những hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ dù là hành vi vô ý. ii Mặt khách quan tội vô ý gây thương tích thể hiện qua hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cụ thể như các hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp thể hiện qua việc thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ quy định về đảm bảo tính an toàn trong hoạt động chuyên môn của từng ngành, từng lĩnh vực; Hành vi vi phạm các quy tắc hành chính đó là việc thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động quản lý, điều hành. Như vậy, có thể thấy khi xét về mặt hậu quả đối với các hành vi vô ý gây thương tích được nêu trên thì người phạm tội đã gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội vô ý gây thương tích. iii Về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi này với lỗi vô ý gây thương tích có thể vì cẩu thả hoặc vì quá tự tin iv Chủ thể của tội vô ý gây thương tích là chủ thể đặc biệt, đó là những người được giao thực hiện nhiệm vụ có tính chuyên môn, người được giao thực hiện nhiệm vụ trong quản lý, điều hành cơ quan, tổ chức có thể có hoặc không có chức vụ, quyền hạn. Ví dụ về lỗi vô ý gây thương tích một nhân viên môi trường đô thị khi thực hiện nhiệm vụ chặt tỉa cây để tạo hành lang thông thoáng cho mọi người tham gia giao thông, tuy nhiên do sự bất cẩn không thực hiện đầy đủ các quy định về đảm bảo an toàn làm cành cây rơi xuống khiến người đi đường bị thương tích. Xem thêm bài viết về lỗi vô ý để so sánh với hành vi cố ý gây thương tích Quy định của pháp luật về tội vô ý gây thương tích Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 i Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. ii Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. iii Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. iv Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Một số câu hỏi thường gặp Vô ý gây thương tích có tỷ lệ thương tật dưới 31% thì xử lý như thế nào? Theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Tóm lại, có thể thấy dù là lỗi cố ý hay vô ý gây thương tích mà gây ra hậu quả nghiêm trọng thì người phạm tội cũng vẫn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và việc quy định, cũng như bổ sung thêm hình đối với người phạm tội này là cần thiết, có tính phòng ngừa cao, răn đe đối với tội phạm. Trên đây là bài viết về hành vi vô ý gây thương tích, vậy đối với hành vi cố ý gây thương tích hiện nay đang được pháp luật quy định như thế nào? Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng do khung hình phạt cao nhất của tội này là 3 năm tù. Với bề dầy kinh nghiệm trong tư vấn luật hình sự, chúng tôi sẽ trình bầy những vấn đề cơ bản nhất về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác các cấu thành tội phạm, các khung hình phạt, các căn cứ để toà án quyết định hình phạt cụ thể với từng vụ án, các hướng luật sư có thể bào chữa cho bị cáo tội phạm này… 1. Cơ sở pháp lý quy định tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì ? Cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm hình sự đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. 2. Thế nào là vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ? Một người bị coi là phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác khi có các dấu hiệu sau đây. Các dấu hiệu này là các cấu thành tội phạm mà khi có đủ các cấu thành tội phạm này thì mới có thể kết luận người đó phạm tội. >>> Xem thêm Các yếu tố cấu thành tội phạm a. Chủ thể của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên. b. Hành vi khi phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi gây thương tích cho người khác. Hành vi của người phạm tội phải là hành vi trực tiếp gây ra thương tích. Lưu ý Nếu trong quá trình tham gia giao thông mà người phạm tội gây thương tích cho người khác thì nhóm thuộc tội xâm phạm an toàn giao thông. Tương tự như vậy đối với hành vi vô ý gây thương tích trong khi lao động. Hậu quả Nếu thương tích của nạn nhân được giám định là từ 31% trở lên thì mới cầu thành tội phạm nếu thương tích dưới 31% thì chưa thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can/bị cáo. Cần lưu ý là hành vi gây thương tích của bị can/bị cáo phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thương tích của nạn nhân. c. Lỗi của chủ thể tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi vô ý vô ý vì quá tự tin người phạm tội nhận thức hành vi vi phạm của mình có thể gây ra hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra hoặc vô ý do cẩu thả người phạm tội không thấy trước hậu quả này mặc dù phải thấy trước hậu quả đó 3. Các khung hình phạt đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì ? Điều 138 Bộ luật hình sự 2015 quy định 3 khung hình phạt thấp nhất là phạt tiền 5 triệu đồng, cao nhất là phạt 3 năm tù. a. Hình phạt theo khoản 1 điều 138 đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm. b. Hình phạt theo khoản 2 điều 138 đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm a Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. c. Hình phạt theo khoản 3 điều 138 đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Các khung hình phạt tội vố ý gây thương tích. – ảnh minh hoạ Luật Thái An 4. Toà án quyết định mức hình phạt đối với người phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như thế nào? Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 138, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. a. Các tình tiết tăng nặng đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Các tình tiết tăng nặng đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể là Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; >>> Xem thêm Thế nào là tái phạm, tái phạm nguy hiểm ? Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm. và các tình tiết tăng nặng khác được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015 >>> Xem thêm Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự b. Các tình tiết giảm nhẹ đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Các tình tiết giảm nhẹ được quy định Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, các tình tiết giảm nhẹ có thể là Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ. Người phạm tội đầu thú >>> Xem thêm Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Lưu ý quan trọng Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. c. Biết mà che giấu tội phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì có bị xử phạt không? Nếu một người biết mà che giấu người phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cùng dấu vết, tang vật của vụ án hoặc cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm, căn cứ Điều 18 Bộ luật hình sự 2015. Cụ thể, mức hình phạt che giấu tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm. Tuy nhiên, nếu người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. d. Khi nào được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác? Nếu người thực hiện tội phạm đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. đ. Khi nào được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác? Người phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không phải chịu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau Sự kiện bất ngờ Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 20 Bộ luật hình sự 2015. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Người thực hiện hành vi phạm tội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 21 Bộ luật hình sự 2015. Tình thế cấp thiết Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Nếu gây thương tích cho người khác trong tình thế cấp thiết thì không phạm tội. Tuy nhiên, nếu người đó gây ra thương tích quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 23 Bộ luật hình sự 2015. e. Có thể thay thế phạt tù bằng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không ? Do tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc loại tội ít nghiêm trọng nên Toà án có thể xem xét, cân nhắc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 06 tháng đến 03 năm, nếu người đó có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Điều 36 Bộ luật hình sự 2015. f. Nếu người bị hại không yêu cầu khởi tố thì sao ? Đối với tội vố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì cơ quan điều tra chỉ khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức. g. Nếu phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và các tội khác đồng thời thì hình phạt sẽ thế nào? Nếu phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và các tội khác đồng thời thì Toà án sẽ tổng hợp các hình phạt như sau, căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự 2015 Đối với hình phạt chính Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn; Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung; Lưu ý quan trọng Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù. 5. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là bao lâu? Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 5 năm. 6. Có nên mời luật sư tham gia vụ án tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không ? Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đều quy định về quyền được thuê luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”. Khi tham gia vụ án nói chung và vụ án vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng, luật sư sẽ Tư vấn pháp luật để giúp cho bị cáo và thân nhân của bị cáo hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợp pháp, từ đó có những hành động khôn ngoan và đúng đắn Đảm bảo cho thân chủ có thể là bị cáo hoặc bị hại thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Nếu thân chủ là bị cáo giúp khỏi bị oan sai, không chịu hình phạt quá nặng so với hành vi phạm tội, được hưởng khoan hồng của pháp luật Nếu thân chủ là bị hại giúp bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp Góp phần xác định sự thật của vụ án, bảo đảm các chứng cứ của vụ án được thu thập, kiểm tra, đánh giá một cách khách quan, chính xác Góp phần hạn chế những sai sót và/hoặc vi phạm của những người tham gia tố tụng cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án… Vai trò của luật sư thể hiện trong tất cả các giai đoạn của vụ án gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án… Chúng tôi phân tích cụ thể sau đây. Các giai đoạn vụ án tội vố ý gây thương tích. – ảnh minh hoạ Luật Thái An 7. Khi nào nên mời luật sư tham gia vụ án về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác? Theo quy định, luật sư được tham gia trong các giai đoạn sau đây của vụ án vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ khi bị người tình nghi, người bị tạm giữ, tạm giam và trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nhưng hiệu quả nhất là luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo ngay từ giai đoạn điều tra, tức là luật sư tham gia vụ án hình sự càng sớm càng tốt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, tránh nhục hình, tránh ép cung, dụ cung hoặc khai báo bất lợi cho bị can, bị cáo, tránh làm oan sai người vô tội. Theo quy định, luật sư được tham gia trong các giai đoạn sau đây của vụ án a. Luật sư tham gia giai đoạn KHỞI TỐ VỤ ÁN về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đây là giai đoạn thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra. Trong giai đoạn khởi này, luật sư sẽ xác định xem đã đủ điều kiện để khởi tố đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hay chưa? Trên thực tế có những vụ án mà cơ quan tố tụng vội vàng khởi tố vụ án, khởi tố bị can khi mới chỉ có lời tố cáo của bị hại, thiếu những bằng chứng vật chứng về hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chưa có vật chứng, chưa có giám định pháp y hay kết quả giám định, chưa có lời khai của người làm chứng… kiểm tra căn cứ, thẩm quyền và trình tự khởi tố vụ án xem đã tuân thủ quy định của pháp luật chưa … b. Luật sư tham gia giai đoạn ĐIỀU TRA VỤ ÁN về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đây là giai đoạn thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra. Thời hạn điều tra vụ án về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là không quá 02 tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Trường hợp cần gia hạn điều tra thì có thể gia hạn một lần không quá 02 tháng. Trong giai đoạn điều tra, bị can có thể bị tam giam để phục vụ công tác điều tra. Thời gian tạm giam bị can tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là không quá 02 tháng. Thời hạn tạm giam có thể được gia hạn một lần không quá 01 tháng. Trong giai đoạn điều tra, luật sư sẽ thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ những chi tiết có lợi cho thân chủ trong vụ án tham gia hỏi cung bị can, nếu có căn cứ cho rằng bị can bị ép cung, bị mớm cung thì luật sư sẽ can thiệp kịp thời kiến nghị với cơ quan điều tra để thay đổi biện pháp ngăn chặn chuyển từ tạm giam sang tại bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh…, triệu tập người làm chứng để lấy lời khai, thu thập chứng cứ, khắc phục hậu quả thí dụ như tạo điều kiện để bị cáo bán tài sản để trả cho người bi hại c. Luật sư tham gia giai đoạn TRUY TỐ VỤ ÁN về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đây là giai đoạn thuộc thẩm quyền của viện kiểm sát. Lúc này cơ quan điều tra đã hoàn thành việc điều tra và chuyển hồ sơ sang viện kiểm sát. Đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Viện kiểm sát sẽ có quyết định truy tố trước Toà án, hoặc trả hồ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án, bị can, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra. Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày. Trong giai đoạn truy tố, luật sư sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án và đưa ra đề xuất, kiến nghị với viện kiểm sát nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình. Các kiến nghị có thể là kiến nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chuyển sang tội danh nhẹ hơn hoặc sang khung hình phạt nhẹ hơn, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự kiến nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung kiến nghị để đình chỉ vụ án d. Luật sư tham gia giai đoạn XÉT XỬ VỤ ÁN về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đây là khi viện kiểm sát ra quyết định truy tố vụ án, truy tố bị can và chuyển hồ sơ sang toà án để xét xử. Đối với vụ án về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Toà án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ / đình chỉ vụ án, trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày. Trong giai đoạn này, luật sư sẽ Nghiên cứu hồ sơ, trong quá trình này luật sư sẽ định hình hướng bảo chữa/bảo vệ cho thân chủ Trao đổi với thân chủ để thống nhất hướng bào chữa, bảo vệ Trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng về các vấn đề như yêu cầu thu thập thêm bằng chứng, xác định tội danh vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, đảm bảo sự có mặt của các nhân chứng tại phiên toà … Chuẩn bị kế hoạch hỏi, luận cứ để tranh luận tại phiên toà Phiên toà xét xử sơ thẩm là nơi luật sư thể hiện thành quả lao động của mình thể hiện qua phần hỏi để làm sáng tỏ tình tiết vụ án và tranh luận đưa ra quan điểm bào chữa hoặc bảo vệ cho thân chủ. Nội dung các phần này sẽ bám chặt vào định hướng bào chữa mà luật sư đã thống nhất với thân chủ, cụ thể sẽ trình bầy trong phần tiếp theo. 7. Hướng bào chữa tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như thế nào? Khi có căn cứ, luật sư có thể bào chữa cho bị cáo tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo một trong ba hướng sau đây Các hướng bào chữa tội vố ý gây thương tích. – ảnh minh hoạ Luật Thái An a. Bào chữa cho bị cáo tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hướng KHÔNG PHẠM TỘI Khi bào chữa theo hướng này thì luật sư sẽ khai thác các tình tiết vụ án, lời khai của các đương sự và người làm chứng mà có lợi cho thân chủ mình, một cách triệt để Không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Luật sư có thể chứng minh chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm như Chủ thể Chủ thể chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự dưới 16 tuổi trong trường hợp bị cáo rất trẻ và giấy khai sinh có sai sót … Hành vi Nạn nhân bị thương nhưng không phải do hành vi của bị cáo Hành vi của bị cáo không phải là nguyên nhân trực tiếp làm cho nạn nhân bị thương tích tới 31 % Nạn nhân đã bị thương từ trước khi bị đánh Lời khai của người làm chứng, bị hại, của các bị cáo khác, hồ sơ vụ án không đủ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Hậu quả Việc giám định pháp y không được thực hiện theo quy định hiện hành thí dụ không tuân thủ Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, quy trình lấy mẫu giám định không phù hợp, trình độ chuyên môn hoặc tính hách quan của chủ thể thực hiện giám định chưa phù hợp, tính khoa học của phương pháp giám định không đảm bảo … Có thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự hay không ? Nếu có căn cứ, luật sư có thể khai thác các tình tiết để đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong các trường hợp đã trình bầy ở phần trên các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có bằng chứng ngoại phạm Nếu có bằng chứng về việc bị cáo đã không có mặt tại hiện trường khi xẩy ra vụ án thì luật sư thuyết phục Hội đồng xét xử xét xử cho bị cáo không phạm tội. b. Bào chữa cho bị cáo tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hướng GIẢM NHẸ Khi có căn cứ, luật sư có thể bào chữa cho bị cáo theo hướng giảm nhẹ về khung hình phạt đối với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cụ thể như sau Về tình tiết định khung trong điều 138 Luật sư khai thác, phân tích các tình tiết để chứng minh bị cáo không phạm tội với những tình tiết định khung, để đề nghị chuyển sang khung hình phạt nhẹ hơn. Thí dụ Việc giám định pháp y không được thực hiện theo quy định hiện hành, quy trình lấy mẫu giám định không phù hợp, trình độ chuyên môn hoặc tính hách quan của chủ thể thực hiện giám định chưa phù hợp, tính khoa học của phương pháp giám định không đảm bảo. Trên thực tế, mức tỷ lệ thương tật là dưới 31% nếu bị cáo bị truy tố theo điểm a khoản 2 điều 138 hoặc dưới 61% nếu bị cáo bị truy tố theo điểm b khoản 2 hoặc khoản 3 điều 138 Về nhân thân của người phạm tội Luật sư phân tích để cho thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự Luật sư phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả người phạm tội tự nguyện chi trả chi phí khám chữa bệnh cho nạn nhân, thăm hỏi gia đình nạn nhân, hỗ trợ vật chất cho người thân của nạn nhân Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ. Người phạm tội đầu thú c. Bào chữa cho bị cáo tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hướng ĐIỀU TRA BỔ SUNG Căn cứ Điều 245 và Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật sư có thể đề xuất Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp sau Trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được Chứng cứ để chứng minh có hành vi phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra hay không? Chứng cứ để chứng minh thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội Chứng cứ để chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội Chứng cứ để chứng minh tình tiết tăng nặng theo cáo trạng của Viện kiểm sát là gì? … Trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền; Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ; Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều 242 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án cho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác; Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt; họ là người câm, người điếc, người mù theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Việc điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh đối với vụ án không đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự; Biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà không chuyển cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án; Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật; Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ; Những trường hợp khác phải ghi rõ lý do trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Lưu ý Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng đã cản trở, đưa ra những yêu vô lý từ chối đăng ký bào chữa, không tạo điều kiện cho thân nhân và người bào chữa được gặp người bị buộc tội khi người bị buộc tội từ chối người bào chữa. Lưu ý Cần lưu ý rằng việc bào chữa theo hướng này sẽ kéo dài thời giai xét xử vụ án. >>> Xem thêm Hưỡng bào chữa tội xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm con người 8. Dịch vụ thuê luật sư bào chữa tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của Luật Thái An Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn và tham gia tố tụng luật sư bào chữa là sự lựa chọn rất khôn ngoan. Với bề dầy kinh nghiệm tham gia các vụ án hình sự cùng sự tận tâm, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, các luật sư Công ty Luật Thái An sẽ tham gia tố tụng với tư cách luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc luật sư bảo vệ người bị hại trong các vụ án hình sự. Chúng tôi sẽ luôn nỗ lực tối để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ khách hàng với mức thù lao hợp lý. >>> Xem thêm Dịch vụ luật sư bào chữa Giới thiệu tác giả Bài viết mới nhất Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Lĩnh vực hành nghề chính * Tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình* Tố tụng và giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình Quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng là quyền cơ bản của công dân. Cá nhân, tổ chức nào có hành vi gây thương tích dẫn đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định khung hình phạt của mỗi hành vi phạm tội là khác nhau. Nhiều độc giả băn khoăn không biết theo quy định, hành vi Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người bị đi tù bao nhiêu năm? Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người có được hưởng án treo không? Khi nào cấu thành tội vô ý gây thương tích dẫn đến chết người? Bài viết sau đây của Luật sư X sẽ giúp bạn giải đáp thắc mắc về vấn đề này, mời quý bạn đọc cùng tham khảo nhé. Hi vọng bài viết sẽ đem lại nhiều thông tin hữu ích cho quý bạn đọc. Căn cứ pháp lý Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Hành vi vô ý làm chết người là một hành vi của một người làm cho người khác chết chấm dứt sự sống với lỗi vô ý. Căn cứ theo Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hành vi vô ý phạm tội là phạm tội một trong các trường hợp sau Người phạm tội vô ý tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng có rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Người phạm tội vô ý không thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù người đó phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả đó có thể xảy ra. Trong đó, tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước hậu quả hoặc có khả năng thấy trước hậu quả gây nguy hại cho xã hội phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của vụ án, độ tuổi, trình độ văn hóa, trình độ nhận thức,… Lưu ý Để xử phạt một cách công bằng và tránh những nhầm lẫn, cần phân biệt rõ hành vi vô ý làm chết người với hành vi giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng. Khác với hành vi vô ý làm chết người, thì hành vi giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng được thực hiện do lỗi cố ý của người phạm tội. Khi nào cấu thành tội vô ý gây thương tích dẫn đến chết người? Căn cứ quy định trên đây thì có thể xác định cấu thành tội phạm của Tội vô ý làm chết người cụ thể như sau 1. Về mặt khách quan của tội phạm Về hành vi Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp, các quy tắc an toàn trong quá trình làm việc. Trong đó Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người Quy tắc nghề nghiệp ở đây có thể được hiểu là các quy định, các quy tắc nhất định đối với công việc cụ thể mà trong quá trình hành nghề người đó phải tuân theo để bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho mình và cho người khác. Quy tắc an toàn ở đây có thể được hiểu là các quy tắc bắt buộc người thực hiện công việc nhất định phải tuân theo nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho mình và cho người khác. Về mặt hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Gây chết người. 2. Về mặt chủ quan của tội phạm Người thực hiện hành vi do lỗi vô ý, bao gồm lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do quá cẩu thả. Có thể hiểu như sau Vô ý vì quá tự tin Người phạm tội biết hành vi của mình là nguy hiểm có thể gây ra hậu quả chết người, nhưng tin rằng hậu quả chết người sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra. Vô ý vì quá cẩu thả Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người, nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra và có thể ngăn ngừa được nhưng cuối cùng hậu quả đó vẫn xảy ra. 3. Mặt khách thể của tội phạm Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ; quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ. 4. Về mặt chủ thể của tội phạm Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hình phạt đối với người phạm tội vô ý làm chết người Người nào vô ý làm chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý làm chết người. Tùy vào trừng trường hợp cụ thể, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội vô ý làm chết người có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 10 năm. Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người bị đi tù bao nhiêu năm? Về tội Vô ý làm chết người Điều 128 Bộ luật Hình sự quy định Đối với tội vô ý làm chết người “Điều 128. Tội vô ý làm chết người Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.” Đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Về tội Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính như sau Điều 129 Bộ luật Hình sự quy định “Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” Như vậy nếu bị truy cứu và bị tuyên án với tội danh Vô ý làm chết người thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu là tội danh Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính thì có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đồng thời có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người có được hưởng án treo không? Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Như vậy, khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo. Điều 128 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vô ý làm chết người như sau Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Như vậy, người phạm tội này có thể bị phạt tù từ 01 đến 10 năm. Trường hợp họ bị phạt tù không quá 03 năm thì có thể được Tòa án xem xét cho hưởng án treo. Mời bạn xem thêm Thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất Chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất Quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu bị hạn chế khi nào? Thông tin liên hệ Trên đây là bài viết Luật sư X tư vấn về “Vô ý gây thương tích dẫn đến chết người“. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả. Đội ngũ luật sư của Công ty Luật sư X luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc liên quan đến dịch vụ soạn thảo đơn xin tạm ngừng kinh doanh của bạn. Nếu có những vấn đề nào chưa rõ cần được tư vấn thêm quý độc giả hãy liên hệ ngay tới hotline để được các chuyên gia pháp lý của Luật sư X tư vấn trực tiếp. FB Tiktok luatsux Youtube Câu hỏi thường gặp Tội vô ý gây thương tích dẫn đến chết người có mức hình phạt cao nhất là bao nhiêu năm?Căn cứ Điều 128 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sauTội vô ý làm chết ngườiNgười nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 vậy, đối với Tội vô ý làm chết người pháp luật quy định mức hình phạt áp dụng cao nhất là 10 năm tù. Người dưới 16 tuổi đánh người khác đến mức chết có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?Theo quy định, người dưới 16 tuổi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm tội cố ý gây thương tích rất nghiêm trong hoặc đặc biệt nghiêm hợp với những phân tích ở trên người đánh người khác và gây ra cái chết cho người đó sẽ có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đây là khung hình phạt cho tội rất nghiêm trọng.Theo đó, người dưới 16 tuổi đánh người khác đến mức chết thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người dưới 16 tuổi đánh người khác đến mức chết có nhiều tình tiết giảm nhẹ có được miễn trách nhiệm hình sự không?Theo quy định, người dưới 16 tuổi đánh người khác đến mức chết dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì vẫn không được miễn trách nhiệm hình sự. Bài bào chữa tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ Luật hình sự BLHS. Phần quan điểm pháp lý đối với vụ án như sau I. Nội dung điều tra vụ án Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17-9-2010, Trần Thị X là giáo viên Trường mầm non HL, X phụ trách cho 23 bé nam ăn trưa. Cháu Lê Quang V sinh ngày 19-12-2006 không ăn, X nhắc nhở nhiều lần, cháu V không nghe. X bế cháu V mở cửa đưa cháu V vào thang máy ở tầng một, bấm nút vận hành di chuyển xuống tầng trệt. X đi nhanh xuống tầng trệt, mở cửa thang máy thấy cháu V nằm trên sàn thang máy, máu chảy ra nhiều. Sẵn có một phụ huynh đến đón con em về, X nhờ chở X và cháu V đến bệnh viện cấp cứu. X bị truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS. » Tư vấn về tội cố ý gây thương tích II. Quan điểm của người bào chữa về vụ án A. Nhận định về tội danh và khung hình phạt mà bị cáo Trần Thị X bị truy tố, xét xử Quá trình điều tra vụ án, quan điểm xử lý hành vi phạm tội của Trần Thị X thiếu nhất quán. Ban đầu Trần Thị X bị khởi tố điều tra về tội “hành hạ người khác” Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 435 ngày 03-11-2010 của Cơ quan CSĐT Công an quận TP. Sau đó lại thay đổi tội danh từ tội “hành hạ người khác” thành tội “cố ý gây thương tích” quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự số 05, quyết định khởi tố bị can số 52 ngày 20-01-2011. Có thể nói, cơ quan CSĐT Công an quận TP lúng túng, bị động trong việc xử lý vụ án. Thật vậy, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can từ hành vi “hành hạ người khác” sang hành vi “cố ý gây thương tích” đều do VKSND quận TP yêu cầu, cơ quan CSĐT chỉ chấp hành thay vì đưa ra quan điểm của cơ quan CSĐT đối với vụ án. Theo tôi, cả hai tội danh mà VKSND quận TP “chỉ đạo” cơ quan CSĐT thực hiện đều khập khiễng, thiếu khách quan và không thuyết phục. Bởi vì – Đối với tội “hành hạ người khác” phải thể hiện hành vi “đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình…”. Tàn ác được hiểu là hành vi gây ra sự đau đớn về thể xác và tinh thần đối với nạn nhân dưới các hình thức như đánh đập, bỏ đói… có hoặc không kèm theo việc chửi mắng thậm tệ, việc đối xử tàn ác thông thường phải lặp đi lặp lại. – Đối với tội “Cố ý gây thương tích” được thể hiện qua hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác tác động lên cơ thể gây tổn thương như ép nạn nhân tự gây thương tích, xô đẩy làm cho nạn nhân ngã va vào vật cứng… Hành vi của X có chăng chỉ là “vô ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 108 BLHS mà thôi. Khái niệm vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi vi phạm các quy tắc thông thường trong cuộc sống về đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe vì quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã làm người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe. B. Nhận định về tỷ lệ thương tật của cháu Lê Quang V Trong giai đoạn điều tra vụ án, cơ quan CSĐT Công an quận TP đã hai lần trưng cầu giám định thương tật của cháu V theo yêu cầu của đại diện giám hộ – Lần 1 Tỷ lệ thương tật toàn bộ 27% hai mươi bảy phần trăm. – Lần 2 Tỷ lệ thương tật do thương tích gây nên hiện tại là 41% bốn mươi mốt phần trăm. Tỷ lệ thương tật của nạn nhân ảnh hưởng tới việc định khung hình phạt trong việc truy tố, xét xử bị can, bị cáo. Quá ngỡ ngàng trước kết quả giám định chênh lệch giữa lần 1 với lần 2 kết quả giám định thương tật lần 2 tăng 14% so với kết quả giám định thương tật lần 1. Trong quá trình điều tra và trước khi xét xử, Trần Thị X đã đề nghị VKSND quận TP, rồi TAND quận TP tiến hành thủ tục trưng cầu giám định lại thương tật của cháu Lê Quang V. Tuy trước đó đã hai lần giám định nhưng đều do đại diện giám hộ bị hại yêu cầu. Yêu cầu vừa nêu là chính đáng, đề nghị Quý Tòa cho hoãn xử để trưng cầu giám định lại thương tật của cháu V. * Tính chất hành vi phạm tội Hành vi phạm tội của Trần Thị X do lỗi vô ý, cẩu thả và không lường trước được hậu quả xấu có thể xảy ra đối với cháu Lê Quang V. Thường thì cơ quan tiến hành tố tụng lập luận là bị can, bị cáo buộc phải biết hành vi sai trái và phải chịu trách nhiệm hậu quả xảy ra. Đối với vụ án này, cũng cần xem xét tính đặc thù của nghề chăm sóc, nuôi dạy trẻ của Trần Thị X. X là giáo viên nhà trẻ chưa được đào tạo kỹ năng nuôi dạy trẻ một cách thành thạo, nên không lường trước “nghịch cảnh” do đứa trẻ gây ra do cháu Lê Quang V không chịu ăn. Việc đưa cháu V vào thang máy, X tưởng như vô hại chỉ nhằm mục đích để cháu V ngoan ngoãn tiếp tục ăn uống, không ngờ cháu V lại va chạm vào thang máy gây ra thương tích đáng tiếc! Hành vi phạm tội của Trần Thị X do nông nổi, mang tính nhất thời, không hề mong muốn thương tích xảy ra cho cháu V. * Thái độ khai báo của Trần Thị X – Tại bản tường trình ngày 29-9-2010 Bút lục số 293, Trần Thị X khai nhận “Trong lúc nóng giận, không kiềm chế được mình, tôi đã bế bé V vào thang máy rồi đóng cửa lại và nhấn nút cho thang máy chạy xuống tầng trệt. Rồi tôi chạy xuống tầng trệt mở cửa ra, lúc đó tôi thấy bé bị chảy máu ở đầu, tôi hoảng sợ đã bế bé ra kêu cứu và đưa bé đi cấp cứu. Tôi không ngờ đã xảy ra thương tích cho bé như vậy. Tôi chỉ muốn hù cho bé sợ để muốn bé tốt hơn, tôi nghĩ thang máy giống với thang máy bình thường như những thang máy khác nên tôi đã làm như vậy nhưng không ngờ gây thương tích cho bé như vậy…” – Tương tự, tại bản tự khai ngày 27-9-2010 Bút lục số 215, Trần Thị X trình bày “Tôi nghĩ thang máy rất an toàn, tôi chỉ muốn hù cho bé sợ để tôi có cách giúp bé tốt hơn nhưng không ngờ khi tôi chạy xuống tầng trệt mở cửa thang ra, tôi thấy bé tôi thật sự hoảng sợ và bế bé chạy đi cấp cứu. Tôi không ngờ những hành động kém suy nghĩ của tôi đã gây cho bé và nhà trường, những người thân những thiệt hại quá lớn, tôi thật sự hối hận về những hành động của mình. Tôi nói ra mong cho tâm hồn tôi được nhẹ nhàng và tinh thần tôi bình ổn một chút. Tôi xin các anh hãy hiểu. Tôi không dám cầu xin tha thứ. Tôi chỉ mong các anh hiểu là những hành động của tôi chỉ muốn giúp bé và giúp mẹ bé để mỗi sáng mẹ khỏi đi làm trễ mà thôi. Tôi xin chấp nhận những hình phạt mà pháp luật định cho tôi”… – Tại biên bản hỏi cung bị can ngày 17-2-2011 Bút lục số 302, Trần Thị X nhận trách nhiệm do tôi X có hành vi bế cháu Lê Quang V bỏ vào thang máy vận chuyển thức ăn rồi nhấn nút để thang máy vận hành gây thương tích nặng cho bé V nên Cơ quan CSĐT Công an quận TP khởi tố đối với tôi về tội “Cố ý gây thương tích”… vào khoảng 11 giờ ngày 17-9-2010, sau khi chuẩn bị bửa ăn cho các bé học lớp chồi xong, tôi và cô giáo Ng chia lớp chồi ra thành 2 nhóm… tôi phụ trách cho nhóm các bé Nam gồm 23 người ăn. Khi đó, tôi thấy bé Lê Quang V không tự giác cầm muỗng xúc cơm ăn nên tôi có nhắc nhở bé V nhiều lần nhưng cháu V vẫn không chịu xúc ăn. Tôi đến gần xúc cơm đút cho bé V ăn nhưng bé V nhả ra 2 lần. Tức giận bé V, tôi dùng hai tay xốc nách bé V lên đưa đến cửa thang máy vận chuyển thức ăn ở tầng 1 cách nơi bé V ăn khoảng 03 – 04m, bé V không khóc hay phản ứng gì cả. Đến trước cửa thang máy, tay trái của tôi bế bé V còn tay phải tôi đưa ra nắm tay cầm mở cửa thang máy ra, bé V vẫn không khóc. Vừa mở cửa thang máy ra, tôi dùng hai tay bế bé V vào đứng trong thang máy… lúc này bé V không khóc và thang máy không có đồ vật gì khác. Sau đó, tôi dùng tay phải đóng cửa thang máy lại, rồi dùng tay phải nhấn nút vận hành thang máy di chuyển xuống đất. Khi thang máy vận chuyển thì tôi quay đi xuống tầng trệt để đón bé V nên không nghe thấy trong thang máy có tiếng bé V khóc hay tiếng va đập gì không. Tôi chỉ đi bộ hơi nhanh chứ không chạy. Khi tôi đi xuống đất, cửa thang máy ở tầng trệt thì thang máy đã xuống đến trước, tôi liền dùng hai tay kéo mở cửa thang máy ra thì thấy cháu V khóc thét lớn, bé V đang nằm trên sàn thang máy, trên người bé V có máu chảy ra nhiều, tôi liền dùng hai tay bế bé V ra khỏi thang máy thì thấy đầu bé V bị tét da đầu, tôi không kịp quan sát mà tri hô kêu cứu rồi bế bé V ra cổng trường. Vừa lúc đó có một phụ huynh đi rước con đang chờ con ở cổng trường đã chở tôi bế bé V đến Bệnh viện Phú Thọ cấp cứu. … Thái độ khai báo của Trần Thị X là thật thà, trung thực, thành khẩn chứ không quanh co chối tội. Đây là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. III. Vấn đề khắc phục hậu quả xảy ra Ngay sau khi xảy ra vụ án, mặc dù bản thân và gia đình Trần Thị X rất khó khăn, nhờ sự giúp đỡ của nhà trường và một số phụ huynh, Trần Thị X đã chuyển giao đồng cho phụ huynh cháu Lê Quang V để góp phần chi phí chữa trị cho cháu. Trước khi vụ án được đưa ra xét xử, nhà trường và gia đình của Trần Thị X đã chuyển giao cho ông Lê Anh H là cha của bé Lê Quang V số tiền đồng, nâng tổng số tiền mà gia đình của bé V đã nhận từ phía Trần Thị X lên đồng. Cùng ngày 10-7-2011, cha mẹ của bé V là ông Lê Anh H và bà Dư Thị T là giám hộ của bé V có làm đơn xin giảm án cho Trần Thị X và xác nhận về mặt dân sự đã thỏa thuận xong. Kính xin tòa giảm án cho cô Trần Thị X để cô sớm hòa nhập cộng đồng. VII. Đề nghị hướng xử lý Qua phân tích và nhận định trên, tôi đề nghị HĐXX – Trả hồ sơ để Viện kiểm sát xem xét chuyển tội danh từ “Cố ý gây thương tích” thành “vô ý gây thương tích”. – Chấp nhận đơn yêu cầu của Trần Thị X xin tái giám định thương tật của cháu Lê Quang V, vì tỷ lệ thương tật của bị hại ảnh hưởng tới khung hình phạt, từ đó ảnh hưởng mức hình phạt đối với Trần Thị X, một cô gái quê lần đầu phạm tội do lỗi vô ý. Trân trọng. theo dragon law » Tư vấn Tố tụng hình sự vụ án cố ý gây thương tích » Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự Luật sư bào chữa tội cố ý gây thương tích

vô ý gây thương tích