Không thể so sánh văn hóa phương Đông và phương Tây . Trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu.
Một phép so sánh "tát thẳng vào mặt" giới con nhà giàu TQ. Sự khác biệt "chuẩn không cần chỉnh" giữa đàn ông và phụ nữ. 1. Phương thức sống. Ngay từ khi bắt đầu, người phương Tây đã dạy học sinh lối sống tự lập nhưng người phương Đông hoàn toàn ngược lại, không
4.27 · Rating details · 59 ratings · 15 reviews. Văn Minh Đông Phương Và Tây Phương của học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần là tập sách nghiên cứu về những đặc tính của hai nền văn minh của nhân loại là Đông phương và Tây phương. Tác giả đề xuất một sự dung hòa cần thiết
So sánh văn minh Phương Đông và phương Tây: P1 Văn minh nhân loại phát triển hàng vạn năm qua, đa dạng mà thống nhất. Con người là một thực thể tự nhiên mang tính xã hội vì vậy ko thể ko chịu tác động của điều kiện tự nhiên.
Văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông Những bức hình dưới đây được thiết kế bởi Liu Young một sinh vien Trung Quốc theo học tại Đức. Bất ngờ về một sự khám phá chuẩn xác và thú vị. Xin được chia sẻ với các bạn. Xanh: Phương Tây Đỏ : Phương Đông Quan điểm Cách sống 1 Đúng giờ Giao thiệp Tức
Thì văn hóa Lưỡng Hà lại bị ảnh hưởng bởi văn minh phương Tây, nền văn hóa Cethic, Anglo Saxon mạnh mẽ, song vẫn học hỏi, tiếp thu những tư tưởng, tín ngưỡng và đạo lý từ phương Đông. 2. Văn hóa phương Tây. Nền văn minh phương Tây hình thành từ đầu thiên niên kỉ I TCN ở các khu vực ven biển Địa Trung Hải, đất đai khá cằn cỗi nhưng rất đa dạng về khoáng sản.
DgEeZs. Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông? Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Tây? Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây?Trong lịch sử phát triển của toàn nhân loại thì bất cứ ai trong chúng ta đều không thể không kể đến sự hình thành và phát triển của hai nền quốc gia, đó là các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại Phương Tây. Hai nền quốc gia này ra đời và phát triển đã có những đóng góp quan trọng vào nhiều lĩnh vực của đời sống con người. Bài viết dưới đây chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại Phương Tây cũng như lập ra bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây? Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại Mục lục bài viết 1 1. Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông 2 2. Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Tây 3 3. Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời vào khoảng thế kỉ IV-III TCN, quốc gia cổ đại phương Đông ra đời và nó cũng tồn tại khá nhiều những nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy trước đó, người dân trong giai đoạn này với trình độ sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ. Khi tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông thì chúng ta nhận thấy đều có chung một điểm đó là các quốc gia này đều hình thành bên các lưu vực sông lớn, cụ thể như – Ai Cập được hình thành bên lưu vực sông Nin – Ấn Độ được hình thành bên lưu vực sông Hằng, sông Ấn. – Trung Quốc được hình thành bên lưu vực sông Hoàng Hà, sông Trường Giang. Việc hình thành bên các lưu vực sông lớn đã đem đến nhiều thuận lợi cho các quốc gia và cũng chính vì sự thuận lợi này mà đa số các quốc gia cổ đại phương Đồng đều tập trung phát triển nông nghiệp, chăn nuôi. Quá trình hình thành quốc gia cổ đại phương Đông được bắt đầu từ quá trình liên kết thị tộc, liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu của việc trị thủy, tuy nhiên quốc gia cổ đại phương Đông vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên thủy. Cũng chính bởi vì nguyên nhân đó mà các quốc gia cổ đại Phương Đông đi theo chế độ là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực sẽ đều được tập trung vào tay một người đứng đầu đất nước là vua, đây chính là người sở hữu quyền lực tối cao, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và sẽ trực tiếp chỉ huy quân đội. Xã hội của các quốc gia cổ đại Phương Đông đều sẽ được chia thành 3 tầng lớp chính đó là Tầng lớp quý tộc, gồm có quý tộc tăng lữ và quý tộc quan lại là tầng lớp đứng đầu; Tầng lớp nông dân công xã chiếm đến trên 90% dân cư trong các quốc gia cổ đại phương Đông, đây được xác định là lực lượng sản xuất chính; Tầng lớp nô lệ, phục vụ trong các cung điện và quan lại giàu có, đây chính là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội. Trong quá trình phát triển kinh tế của mình thì các quốc gia cổ đại phương Đông đều tập trung phát triển chính vào nền nông nghiệp, cụ thể có thể kể đến như thủ công nghiệp, chăn nuôi theo hình thức tự cung tự cấp. Việc tập trung phát triển nền nông nghiệp cũng nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dong sông lớn đem lại phù sa màu mỡ. Phương Đông cổ đại là một nơi đã phát triển kinh tế từ rất sớm, phương Đông cổ đại cũng đã trải qua một quá trình thống nhất về chính trị và hưng thịnh về văn hóa rất sớm. Nền cổ đại phương Đông cũng là nơi đã xây dựng lên những kim tự tháp hay những đền đại, cung điện nguy nga, những bức trường thành vạn dặm và cũng chính là nơi đã phát sinh ra những tư tưởng triết học duy vật và vô thần sớm nhất. Ta thấy rằng, phương Đông cổ đại là nơi nảy sinh những tri thức đầu tiên của loài người về khoa học và kỹ thuật, về văn hóa và nghệ thuật. 2. Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Tây Các quốc gia cổ đại phương Tây có sự khác biệt khá lớn khi so sánh với các quốc gia cổ đại phương Đông, các quốc gia cổ đại phương Tây có sự ra đời khá là muộn so với các quốc gia cổ đại phương Đông đó là vào thế kỉ I TCN. Các quốc gia cổ đại phương Tây được hình thành dựa trên cơ sở trình độ sản xuất cao với cong cụ chủ yếu là sắt. Các quốc gia cổ đại phương Tây được hình thành chủ yếu ở khu vực vùng ven biển địa Trung hải, đây là nơi có điều kiện đất đai khô cằn và tại đây cũng rất khó cho hoạt động canh tác, phát triển nông nghiệp, nhưng khu vực vùng ven biển địa Trung hải thì lại thuận lợi cho quá trình phát triển hải cảng, thương nghiệp. Về thể chế chính trị thì các quốc gia cổ đại phương Tây chủ yếu xây dựng theo nền dân chủ chủ nô hoặc công hòa quý tộc, đế chế. Xã hội của các quốc gia cổ đại phương Tây sẽ được chia ra làm 2 giai cấp chính đó là – Thứ nhất Chủ nô đây là những chủ xưởng, chủ buôn,… và những đối tượng này sẽ nắm giữ rất nhiều của cải nên họ rất giàu có, có cuộc sống sung túc và chủ nô nắm trong tay nhiều quyền lực, họ bóc lột nô lệ rất nặng nề và các chủ nô cũng sở hữu nhiều nô lệ. – Thứ hai Nô lệ đây cũng là thành phần chiếm số đông trong xã hội các quốc gia cổ đại phương Tây, nô nệ chính là lực lượng lao động chính nhưng lại các đối tượng này lại không được hưởng bất cứ quyền lợi nào và họ sẽ phải chịu sự bóc lột nặng nề của chủ nô, hay còn được gọi là vật sở hữu của chủ nô. Về kinh tế của các quốc gia cổ đại phương Tây thì do địa hình tư nhiên không mấy thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp nên chỉ tập trung vào phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp. 3. Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây Nội dung so sánh Các quốc gia cổ đại Phương Đông Các quốc gia cổ đại Phương Tây Điều kiện tự nhiên – Bởi vì các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành trên lưu vực các con sông lớn nên các quốc gia này có điều kiện đồng bằng phù sa màu mỡ, tơi xốp, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp – Với nguồn nước vô cùng dồi dào, tạo điều kiện quan trọng trong việc cung cấp nước cho hoạt động sản xuất và nước dùng trong sinh hoạt, bên cạnh đó thì cũng sẽ cung cấp nước cho nguồn thủy sản, và đây cũng là đường giao thông quan trọng của đất nước – Các quốc gia cổ đại phương Tây có đường bờ biển kéo dài, nhiều vũng vịnh sâu và kín gió, thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường biển. – Đất đai tại các quốc gia cổ đại phương Tây thích hợp để trồng các loại cây như nho, ôliu,… Kinh tế Các quốc gia cổ đại phương Đông có nền kinh tế nông nghiệp được chú trọng và rất phát triển, đồng thời cũng có sự gắn liền với công tác thủy lợi. – Các quốc gia cổ đại phương Tây có nền kinh tế công thương, mậu dịch hàng hải phát triển, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. – Ngành nông nghiệp chỉ được xác định là thứ yếu đối với các quốc gia cổ đại phương Tây. Chế độ chính trị Các quốc gia cổ đại phương Đông theo chế độ chuyên chế cổ đại hay nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Bộ máy nhà nước của các quốc gia cổ đại phương Tây 100% là quý tộc, đất nước mang tính dân chủ chủ nô hay cộng hòa quý tộc. Xã hội Xã hội các quốc gia cổ đại phương Đông tồn tại hai giai cấp chính là – Giai cấp thống trị, gồm vua, quý tộc, quan lại. – Giai cấp bị trị, là nông dân, nô lệ, thợ thủ công và nhiều đối tượng khác. Các quốc gia cổ đại phương Tây có hai giai cấp cơ bản và luôn tồn tại mối quan hệ đối kháng nhau là Chủ nô và nô lệ Thành tựu văn hóa Thành tựu văn hoá của các quốc gia cổ đại phương Đông – Sáng tạo ra nông lịch. – Chữ viết tượng hình, tượng ý – Phát minh và nghiên cứu ra toán học số pi, diện tích hình tròn… – Kiến trúc nổi trội Kim tự tháp Ai Cập, thành Babilon Lưỡng Hà. Thành tựu văn hoá của các quốc gia cổ đại phương Tây – Sáng tạo ra lịch. – Hệ chữ cái Latinh; – Số La Mã; – Toán học với các định lý Pitago, Ta lét… – Nghệ thuật Tượng nữ thần Atena, đấu trường Roma… Ta nhận thấy, khi so với thời kì trước thì đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của con người ở giai đoạn này về cơ bản cũng đã được cải thiện, tiến bộ hơn. Những hiểu biết khoa học đã có từ hàng nghìn năm trước từ thời cổ đại phương Đông, đến thời kì các nước cổ đại phương Tây thì những hiểu biết đó đã trở thành khoa học. Cho đến hiện nay, ta thấy rằng, những thành tựu văn hóa của các quốc gia phương Đông và phương Tây vẫn còn tồn tại, được áp dụng trong thực tế cuộc sống và đã đem đến nhiều ý nghĩa to lớn cho đời sống con người. Từ bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây, ta nhận thấy, văn hóa cổ đại phương tây phát triển hơn văn hóa cổ đại phương đông bởi những nguyên nhân sau đây – Văn hóa cổ đại phương tây phát triển hơn văn hóa cổ đại phương đông bởi thời gian hình thành nền văn hóa cổ đại phương tây ra đời muộn hơn các quốc gia cổ đại phương Đông, do đó văn hóa cổ đại phương Tây đã tiếp thu, kế thừa nền văn minh của các quốc gia cổ đại phương Đông. – Văn hóa cổ đại phương tây phát triển hơn văn hóa cổ đại phương đông bởi điều kiện tự nhiên cầu nối giao lưu giữa các vùng, tiếp xúc với biển đã mở ra cho họ một chân trời mới, các chủ thể trong nền văn hóa cổ đại phương Tây có điều kiện giao lưu tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới. – Sự phát triển cao hơn về mặt kinh tế, chính trị xã hội cơ sở kỹ thuật, đồ sắt, kinh tế công thương nghiệp và hàng hải; vai trò của tầng lớp tri thức trong xã hội. – Thể chế dân chủ chủ nô của văn hóa cổ đại phương Tây cũng góp phần tạo điều kiện cho con người tự do phát huy tài năng sáng tạo của mình.
PHẦN MỞ ĐẦULịch sử văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thầncủa xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Loài ngườira đời và đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần cách đây hàngtriệu phương Đông tức ở Châu Á và Đông Bắc Châu Phi, từ cuối thiên niênkỷ IV - đầu thiên niên kỷ III trước CN, có bốn trung tâm văn minh lớn, đó là AiCập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Cả 4 trung tâm này đều nằm trên lưu vựcnhững con sông lớn như sông Nile ở Ai Cập, sông Euphrates và sông Tigris ởLưỡng Hà, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Trường Giang vàHoàng Hà ở Trung Quốc. Nhờ sự bồi đắp của những con sông này nên đất đai ởđây màu mỡ, rất thuận lợi cho nền nông nghiệp xuất hiện và phát triển và hơn thếnữa là sáng tạo những thành tựu văn minh rực rỡ. Phương Đông cũng là cái nôi củavăn minh nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết, vănhọc, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khácỞ phương Tây xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Tuy muộn hơnphương Đông từ thiên niên kỷ III đến thiên niên kỷ II trước CN nhưng Hy Lạp đãđạt được những thành tựu to lớn. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầuxuất hiện. Kế thừa và phát huy văn minh Hy Lạp, La Mã trở thành một trung tâmvăn minh lớn ở phương Tây. La Mã chinh phục Hy Lạp thế kỷ II TCN và tiếp đóchinh phục các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp ở phương Đông, trở thành đếquốc rộng lớn, hùng mạnh. Văn minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh HyLạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hòa đồng và tiếp biến với nó, nênngười ta gọi chung hai nền văn minh này là văn minh Hy - La. Những thành tựurực rỡ của văn minh Hi-La cổ đại được ghi vào lịch sử nhân loại như những ánhhào quang rực rỡ nhất. đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh châu Âunói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủmọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương Tây cổ trung đạiđược khẳng định và thừa nhận xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnhhưởng đến thời đại ngày đến văn minh Phương Đông không thể không đặt nó trong mối tương quan vớivăn minh Phương Tây. Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếutính khách quan, cần đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Giữa 2nền văn minh này có nhiều điểm giống và khác nhau, tìm ra những điểm ấy củavăn minh đông – tây cũng là tìm ra mấu chốt, là chìa khoá để mở ra cánh cửa đóngkín từ lâu của thế giới cổ đại đầy bí ẩn. Với tiểu luận này, tôi xin trình bày một sốđiều mình nghĩ về sự giống và khác nhau giữa các quốc gia cổ đại phương đông,phương tây trong thế giới cổ NỘI DUNG1. Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây và phương Đông Điều kiện hình thành nền văn minh phương Đông cổ đạiLoài người ra đời cách đây hàng triệu năm, và từ đó loài người đã sáng tạo ranhững giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Nhưng mãi đến cuối thiên kỉ IV TCN,xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã ở Ai Cập, nhà nước bắt đầu ra đời, từ đó loàingười mới bắt đầu bước vào thời kì văn thời cổ đại, tức là từ cuối thiên kỉ IV, đầu thiên kỉ III TCN, đến những thế kỉtrước sau CN, ở phương Đông tức là ở châu Á và ở Đông Bắc châu Phi có bốntrung tâm văn minh lớn, đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Có mộttình hình chung nổi bật là cả bốn trung tâm văn minh này đều nằm trên nhữngvùng chảy qua của những con sông lớn. Đó là sông Nin ở Ai Cập, sông Ơphrat vàsông Tigrơ ở Tây Á, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Hoàng Hàvà Trường Giang ở Trung Quốc. Chính nhờ sự bồi đắp của những dòng sông lớnấy nên đất đai ở những nơi này trở nên màu mỡ, nông nghiệp có điều kiện pháttriển trong hoàn cảnh nông cụ còn thô sơ, dẫn đến sự xuất hiện sớm của nhà nước,do đó cư dân ở đây sớm bước vào xã hội văn minh, và hơn thế nữa đã sáng tạo nênnhững nền văn minh vô cùng rực hội có giai cấp và nhà nước đã xuất hiện đầu tiên ở phương Đông, trên lưu vựccác dòng sông lớn ở châu Phi và châu Á như sông Nin ở Ai Cập, sông Ơ-phơ-rátvà Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà, sông Ấn, sông Hằng ở Ấn Độ, Hoàng Hà ở Trung Ở đây có những điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi cho đời sống của con nơi này có nhiều đất canh tác, có mưa đều đặn theo mùa, có khí hậu nóngẩm trừ Trung Quốc nhưng cũng không lạnh như ngày nay, dân cư sống tập trungkhá đông theo từng bộ lạc, trên các thềm đất cao gần sông, dễ trồng vườn, trồnglúa và chăn 3500 năm đến 2000 năm trước công nguyên, cư dân ở Tây Á, Ai Cập vàcư dân ở lưu vực các sông còn lại đã sinh sống trên đồng bằng ở ven các con sống bằng nghê nông là chủ yếu và biết trồng mỗi năm hai vụ. Đồng bằng vensông đã bù đắp rất nhiều cho con người. Vào mùa mưa hàng năm, nước sông dângcao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ và làm cho đất rất mềm,dễ làm với cả những chiếc cày bằng dân phương Đông sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trước tiên họ phải lođến công tác thuỷ lợi. Họ đã biết đào các hệ thống kênh, lập hệ thống gầu để múcnước ở chân ruộng thấp và đưa nước lên chân ruộng cao những khi cần. Ngoài ra,họ còn biết đắp đê để ngăn lũ nhờ thế con người có thể thu hoạch lúa ổn định hằngnăm. Công việc trị thuỷ khiến moi người gắn bó và ràng buộc với nhau trong tổchức công Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây cổ Hi Lạp cổ đạiHi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thầnbiển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nướcmình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ TrungQuốc, ta gọi là Hi đai Hi Lạp cổ đại bao gồm Hi Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean tớiphía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùnglục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkans. Lục địa Hi Lạp gồm 3 phần miền Bắc là vùngđồng bằng rộng lớn và quan trọng nhất Hi Lạp; miền Trung ngăn cách với phía bắcbởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trùphú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hìnhbàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện nhà nước thành bangđầu tiên của Hi Lạp – nhà nước dù có nhiều đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hi Lạp không phìnhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương thựcchính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai hình Hi Lạp tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng có sự thuận lợituyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, thuậnlợi cho tàu bè hoạt động. Từ đây, người Hi Lạp dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hảiđể giao giữa vùng tiếp giáp giữa 3 châu, Hi Lạp sớm tiếp thu những thành tựu củanền văn minh phương Đông cổ đại và tạo ra một nền văn minh Hi Lạp cổ đại độcđáo và rực rỡ, với những thành tựu tuyệt vời đóng góp cho sự phát triển của vănminh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói La Mã cổ đạiNơi phát sinh quốc gia La Mã cổ đại là bán đảo Ý – một dải đất dài và hẹp nhưchiếc hia duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải với diện tích lớn gấp 5 lần bán đảo HiLạp. Phía Bắc có dãy núi Apels như một bức tường thành tự nhiên ngăn cách bánđảo với lục địa châu Âu; ba phía Đông, Tây, Nam đều có biển bao bọc. Dãy núiApennines như một chiếc xương sống chạy dọc bán đảo từ Tây Bắc xuống với Hi Lạp, điều kiện tự nhiên của La Mã tương đối thuận lợi hơn. Nơi đâycó nhiều đồng bằng rộng lớn, màu mỡ và phì nhiêu đồng bằng sông Pô miềnBắc, đồng bằng sông Tibrơ miền Trung, các đồng bằng trên đảo Xixin. Ở miềnNam còn có nhiều đồng cỏ rộng lớn thuận tiện cho việc phát triển nghề nông vàchăn nuôi gia súc. Ở phía Tây và Nam, bờ biển có nhiều cảng, tàu bè ra vào dễdàng, thuận lợi cho giao thông và buôn bán. Tóm lạiVăn minh phương Tây cổ đại mà nền tảng là 2 nền văn minh của Hi Lạp và La Mãđã hình thành và phát triển trên cơ sở điều kiện tự nhiên của những cư dân gốc dumục. Khác với các quốc gia cổ đại phương Đông, nền văn minh chủ yếu được hìnhthành trên những khu vực gần các con sông lớn, thuận lợi cho sự phát triển nôngnghiệp, văn minh phương Tây cổ đại hình thành và phát triển trên những khu vựcđiều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt và phức tạp hơn. Điều kiện tự nhiên đótuy khó khăn cho sự phát triển của nông nghiệp, nhưng bù lại nền văn minhphương Tây có được sự trợ giúp tuyệt vời của biển đảo. Những con đường giaothương trên biển, hải cảng, tàu bè không chỉ tạo điều kiện phát triển trong mốiquốc gia mà còn thúc đẩy sự giao lưu, buôn bán giữa các nước, mang những thànhtựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp nơi trên thế giới. Sự phát triểnvề kinh tế, đặc biệt là kinh tế thương nghiệp hàng hải đã tạo ra một nền kinh tếgiàu mạnh cho các quốc gia phương Tây cổ đại, đặc biệt là sự phát triển cực thịnhcủa chế độ chiếm nô. Phương thức sản xuất chiếm nô thời bấy giờ đạt đến mứchoàn chỉnh và cao nhất của nó trong xã hội phương Tây cổ đại. Chính sự phát triểncủa chế độ chiếm nô đã tạo điều kiện cho sự sáng tạo ra những giá trị vật chất vàtinh thần của nền văn minh phương Tây. Sự giàu mạnh về kinh tế cùng với nhữngcon đường giao thông trên biển là những nguyên nhân quan trọng đã thúc đẩy quátrình bành trướng của các quốc gia được mệnh danh là đế quốc cổ đại Hi Lạp vàLa vậy, điều kiện tự nhiên của Hi Lạp và La Mã không chỉ là nền tảng, cơ sở tạora nền văn minh phương Tây cổ đại với nhiều thành tựu rực rỡ mà điều kiện tựnhiên cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng đã mang nền văn minh phương Tây cổđại truyền bá khắp thế giới dù bằng nhiều con đường khác nhau hòa bình hoặcchiến So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về kinh tếCác quốc gia cổ đại phương đông và phương tây có sự giống và khác nhau về cácđặc điểm kinh Kinh tế của họ phát triển đến thời cổ đại đều đã kinh qua nền sản xuất nguyênthuỷ, công xã thị tộc. Hay nói cách khác sự tan rã của nền kinh tế nguyên thuỷ làtiền đề để hình thành nền kinh tế cổ đại ở cả các quốc gia phương đông và đều trải qua nền sản xuất nguyên thuỷ nên họ đều có những điểm giốngnhau, đều trải qua mô hình sản xuất công xã thị tộc, công xã nông thôn, đều có nềnkinh tế đi lên từ nông nghiệp-Kinh tế của họ phát triển đều dựa vào điều kiện tự nhiên, phát huy thế mạnh mà tựnhiên ban tặng cũng như hạn chế đến mức tối đa các khó khăn từ điều kiện tựnhiên gây ra với kinh tế ở phương đông là tận dụng lương mưa và đất phù sa đểphát triển nông nghiệp, hạn chế hậu quả do lũ lụt gây ra, ở phương tây là phát huythế mạnh về hàng hải và thủ công nghiệp, hạn chế khó khăn do thiếu hụt lươngthực gây raở phương tây, đất đai không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nênphải dựa vào thương nghiệp để mua lương thực cho những năm mất mùa- Ở cả các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây các ngành kinh tế nôngnghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều đã có đủ sự khác nhau chỉ ở chỗ họlấy nghành kinh tế nào là mũi nhọn để phát triển mà phương Đông đặc trưng kinh tế của họ là nền kinh tế nông nghiệp mang tínhchất tự cấp,tự tế thủ công nghiệp và thương nghiệp có tồn tại nhưngkhông có điều kiện phát triển, được coi như nghề phụ trong những lúc lại các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế chủ yếu của họ là thủcông nghiệp và thương là nơi hình thành và phát triển nền kinh tế hànghoá cổ đây ta sẽ đi rõ vào chi tiết từng ngành sản xuất để thấy rõ hơn sựkhác biệt nông nghiệp các quốc gia cổ đại phương đông nông nghiệp trồng lúa nước là ngànhkinh tế chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại phương đông. Bêncạnh việc lấy nghề nông làm gốc, cư dân phương đông thời cổ đã biết chăn nuôigia súc như bò, cừu, lợn , và biết trồng các loại ngũ cốc khác nhau như ngô, lúamạch, kê, vừng và các loại cây ăn quả khác. Chính vì các nghành nông nghiệp pháttriển theo hướng tự túc, tự cấp như vậy nên kinh tế hàng hoá không phát triển, nhucầu trao đổi buôn bán hàng hoá ít. Lối sản xuất này của họ đã gần như bóp nghẹtkinh tế công thương nghiệp và tạo ra sự trì trệ tương đối nhưng vì 3 trong 4 quốcgia cổ đại phương đông nằm biệt lập với/>túc là chủ yếu nên nền thương nghiệp chưa phát triển, buôn bán trao đổi chủ yếudưới hình thức vật đổi lấy vật, tiền tệ đã xuất hiện nhưng chưa phổ biến. Nước cónền kinh tế thương nghiệp phát triển nhất phương đông là Lưỡng Hà cổ khi nền kinh tế thủ công nghiệp ở phương đông không phát triển đượcdo nền kinh tế mang chất tự cấp, tự túc thì nền thương nghiệp ở phương tây đã cósự phát triển mạnh mẽ đặc biệt là giao thương bằng đường biển. Các thuyền buôncủa họ đã nối liền 3 châu lục Á, Phi, Âu và đem về vô số tài sản cho lái buôn. Tóm lạiVậy tại sao lại có sự khác nhau về kinh tế giữa các quốc gia phương đông vàphương tây như vậy? đó là do giữa phương đông và phương tây có sự khác nhau vềđiều kiện tự nhiên. Ở buổi đầu của văn minh nhân loại con người phải sống phụthuộc vào tự nhiên chứ chưa có ý muốn cũng như khả năng để chinh phục nó. Laođộng là quá trình thúc đẩy sự tiến hoá của con người. Ở thời cổ đại con người cònở một trình độ sản xuất chưa cao. Nền kinh tế nông nghiệp phương đông phát triểntrên cơ sở trị thuỷ các dòng sông lớn, đất đai ở đây được phù sa các sông lớn nhưsông Nin ở Ai Cập, Sông Tigơrơ và Ơphơrát ở Lưỡng Hà, Sông Ấn và sông Hằngở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc. Chính các con sôngnày đã tạo nên các đồng bằng phì nhiêu, các vụ mùa bội thu và quan trọng nhất làtạo ra các nhà nước cổ đại phương đông. Không một quốc gia phương đông cổ đạinào mà lại không có một dòng sông lớn chảy qua. Nhờ lớp đất phù sa có nơi dàytới vài mét nên nông nghiệp phương đông vẫn phát triển dù thời kì đó công cụ laođộng của họ chủ yếu là gỗ, đá và đồng đỏ họ có thể canh tác mà không cần công cụbằng sắt. Một yếu tố tự nhiên khác làm cho sự phân hoá đông – tây là khí hậu vàđịa hình. Như ta đã biết một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì phải dựa vào điềukiện khí hậu và địa hình. Ví dụ ở nước ta cũng như đa số các quốc gia phươngđông nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển do nó hình thành trên cơ sở cácđồng bằng rộng lớn có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Sở dĩ 2 yếu tố này đi với nhau vìnó bổ xung lẫn nhau vì có những nơi như ở La Mã cổ đại có các đồng bằng khá lớnnhư đồng bằng Pô và đồng bằng Tibrơ nhưng nền kinh tế nông nghiệp không dữvai trò chủ đạo vì khí hậu ở đây là khí hậu Địa Trung Hải tuy có nhiều nét giốngvới khí hậu nhiệt đới nhưng lượng mưa hàng năm ít hơn nhiều, còn ở một số vùngnhư ở Trung Phi và một số vùng núi cao ở nước ta lượng mưa trong năm khá caonhưng do địa hình gồ ghề không có các đồng bằng châu thổ rộng lớn nên không cóđiều kiện phát triển nhà như những gì nãy giờ ta phân tích về sự quan trọng của sông ngòi, địa hình,khí hậu làm nền tảng cho nền nông nghiệp phương đông thì những điều kiện đókhông có đủ như ở các quốc gia phương tây. Vậy cơ sở tự nhiên để hình thành cácquốc gia cổ đại phương tây là gì? Như đã nói từ đầu nền kinh tế các quốc gia cổ đạiphương tây là nền kinh tế dựa trên sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp,nông nghiệp chỉ là thứ yếu, là nguyên liệu cho thủ công nghiệp và thương nghiệpvì thế các quốc gia cổ đại phương tây không cần các điều kiện như ở phương họ cũng là con người, cũng phải tuân theo các quy luật nhất định nhà nướcchỉ hình thành khi kinh tế đạt đến một mức nào đó khi mà quan hệ công xã thị tộcbị giải thể vì sự tư hữu trong tư liệu sản xuất. Các quốc gia phương tây không cầncác điêu kiện như phương đông vì họ dựa trên thủ công nghiệp và thương Lạp và La Mã đều là các quốc gia nằm trên các bán đảo lớn ăn ra biển, có nhiềuvũng, vịnh kín gió thuận lợi cho phát triển hàng hải. Hơn nữa 2 bán đảo Bancăngvà Italia đều nằm trong vùng biển Địa Trung Hải vùng biển này 3 mặt là 3 châu lụcÁ, Phi, Âu bao bọc nên tương đối yên bình, ít bão lớn. Vì thế từ thời cổ đại khi kĩthuật đóng tàu chưa phát triển hoàn thiện người ta vẫn có thể vượt biển để buônbán. Đất đai và khí hậu ở đây tuy không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúanước nhưng bù lại khí hậu và đất đai ở đây lại thuận lợi cho việc trồng một số câycông nghiệp lâu năm như nho, ôliu. Đây là nguyên liệu để sản xuất rượu nho vàdầu ôliu 2 mặt hàng có thể cho là “đặc sản” của các quốc gia cổ đại phương nữa đất đai của họ không thích hợp với sản xuất nông nghiệp nên để có nguồnlương thực đáp ứng nhu cầu họ phải tiến hành trao đổi, buôn bán với các quốc giadồi dào lương thực ở phương đông như Ai Cập, Lưỡng Hà đây cũng là những thịtrường tiêu thụ rộng lớn của So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về chính trị - xãhộiCũng giống như về kinh tế, về chính trị - xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổđại phương tây có những nét giống và khác nhau nhất Giống nhau Do cùng trải qua xã hội nguyên thuỷ trước khi hình thành cácquốc gia cổ đại của mình nên giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâycũng có những nét giống Cơ sở của việc hình thành nhà nước là sự phân chia giai cấp và sự tư hữu về tưliệu sản xuất nên xã hội cổ đại phương đông và phương tây đều chia làm 2 tầng lớplà tầng lớp thống trị bao gồm tăng lữ, quý tộc ở phương đông và chủ nô ở phươngtây, tầng lớp bị trị là những nông dân công xã, dân tự do và nô Sự hình thành và phát triển của các quốc gia cổ đại dựa trên cơ sở sự bóc lột củatầng lớp thống trị với tầng lớp bị trị- Kế tiếp xã hội cổ đại là xã hội chiếm nô, cả các quốc gia phương đông và phươngtây đều như vậy nhưng do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế mà các quốc giacổ đại phương đông không phát triển chế độ chiếm nô đến điển hình và thành thụcnhư ở các quốc gia cổ đại phương Khác nhau Về chính trị- Sự khác nhau đầu tiên và rất rõ ràng giữa các quốc gia cổ đại phương đông và cácquốc gia cổ đại phương tây là ở thể chế nhà nước, trong khi các quốc gia cổ đạiphương đông theo chế độ tập quyền chuyên chế thì ở phương tây thể chế nhà nướccủa họ là chế độ dân chủ chủ nô. Đây là 2 hình thức nhà nước cơ bản mà dựa vàonó các quốc gia phong kiến, hiện đại dùng để tổ chức bộ máy nhà nước. Ở cácquốc gia phương đông “vua có quyền lực tuyệt đối. Tên của các ông vua được gọitheo cá cách khác nhau ở Ai Cập gọi vua là Pharaông, ở Lưỡng Hà gọi là Patêxihay Enxi Vua được coi là con của thần hay thượng đế” nói chung vua các quốc giaphương đông có quyền lực vô hạn. Trái với các quốc gia phương đông các quốcgia phương tây cổ đại theo chế độ dân chủ chủ nô. Hội đồng nhân dân giữ vai tròquyết định, vua được chọn chỉ nhằm tổ chức nhà nước quyền lực của vua bị giớihạn bởi các cơ quan như “viện nguyên lão”, “đại hội công dân” hay thậm chí bởimột ông vua khácchế độ của thành bang Xpác- Sự khác nhau giữa các quốc gia phương đông và phương tây còn ở thời điểm rađời của nhà nước cổ đại các quốc gia cổ đại phương đông là những nhà nước đầutiên của nhân loại theo một số tài liệu như “Lịch sử thế giới cổ trung đại” doNghiêm Đình Vỳ chủ biên hay “Lịch sử thế giới cổ đại” của Chiêm Tế thì các quốcgia cổ đại phương đông hình thành từ khoảng thiên niên kỉ IV – III TCN, tức là khinhà nước của họ thành lập thì con người còn đang ở thời kì đá- đồng và dĩ nhiênchưa có sự xuất hiện của công cụ bằng sắt. “Thậm chí người Ai Cập mới chỉ biếtđến công cụ bằng đá và gỗ”Lịch sử thế giới cổ trung đại. Trong khi đó các quốcgia cổ đại phương tây bước vào quá trình hình thành nhà nước muộn hơn nhiềutheo một số tài liệu thì đó là vào khoảng thế kỉ VIII- VII TCN. Đây cũng là sự khácnhau về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương Điểm khác nhau tiếp theo về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông vàphương tây là các quốc gia cổ đại phương đông tồn tại một cách khá cách biệt vớithế giới bên ngoài nên họ tồn tại và phát triển một cách khá độc lập liên tục màkhông chịu ảnh hưởng của nền văn minh nào khác từ bên ngoài nếu bị xâm lược thìthường giành lại độc lập sau đó. Trong khi đó chính trị, xã hội của các quốc gia cổđại phương tây chịu ảnh hưởng khá lớn từ các lực lượng bên ngoài. Họ thườngphải chịu những cuộc xâm lược của các bộ tộc khác tiêu biểu là cuộc xâm lược củangười Giecmanh cuộc xâm lược này đã làm sụp đổ đế chế La Mã đồng thời cũngchấm dứt lịch sử cổ đại châu Âu mở ra thời kì phong Về mặt tổ chức nhà nước thì các quốc gia cổ đại phương đông lãnh thổ của họthường khá rộng lớn và là một nhà nước thống nhất ví dụ như Ai Cập, Trung Quốc,Lưỡng Hà. Lịch sử Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc cũng có một số thời kì bị chia cắtnhưng các vùng chia cắt thường không khác nhau lắm về chính trị, xã hội, hơn nữathì chúng thường được nhanh chóng thống nhất trở lại. Nhưng ở các quốc gia cổđại phương tây đặc biệt là ở Hi Lạp cổ đại, nhà nước của họ tồn tại dưới hình thứcthành bang tức là trên lãnh thổ đó tồn tại nhiều tiểu quốc nhỏ với chế độ tổ chứcnhà nước khác nhau giữa các thành bang không có sự giống nhau ví dụ thành bangAten là thành bang có hình thức hội đồng 500 và hội đồng công dân đứng đầu là 10nhà chiến lược kiệt xuất được bầu chọn, ở Xpác cũng có hội đồng nhân dân nhưngchủ chốt lại là ở 2 vua và 5 quan giám sát. Ở Rôma thời kì đế chế tuy lãnh thổ mởrộng nhưng về bản chất vẫn không có sự quản lý chặt chẽ thành một khối như ởcác quốc gia cổ đại phương Sự khác nhau về xã hội- Theo quy luật khách quan của lịch sử thì tiếp theo xã hội cổ đại sẽ là xã hội chiếmnô nhưng do một số nguyên nhân về điều kiện tự nhiên và xã hội nên ở phươngđông tồn tại một cách dai dẳng chế độ công xã nông thôn 1 hình thức tổ chức xãhội mà trong đó duy trì nền kinh tế tự nhiên và nhiều tàn dư của công xã nguyênthuỷ. Vì vậy nên xã hội chiếm nô ở phương đông không phát triển đến mức thànhthục, điển hình như ở các quốc gia phương tây nơi số lượng nô lệ đông gấp hàngchục lần chủ nô và bình Điều khác nhau tiếp theo giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây làvề lực lượng chính lao động để làm ra của cải vật chất. Ở các quốc gia phương tâyvới nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, lực lượng chính làmra của cải vật chất là những người nô lệ, một thứ “công cụ biết nói”, còn ở cácquốc gia cổ đại phương đông với nền kinh tế nông nghiệp phát triển thì vai trò nàythuộc về những nông dân công xã. Lực lượng lao động chính khác nhau cũng chothấy sự khác nhau về bản chất xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và cácquốc gia cổ đại phương Do sự khác biệt trong lực lượng sản xuất chính giữa xã hội cổ đại phương đôngvà xã hội cổ đại phương tây nên mâu thuẫn xã hội giữa các quốc gia cổ đại phươngđông và phương tây cũng khác nhau. Ở xã hội cổ đại phương đông dó là mâu thuẫngiữa 2 giai tầng chính là giai cấp thống trị vua, quan, quý tộc và giai cấp bịtrị nông dân công xã, nô và thợ thủ công. Ở các quốc gia cổ đại phương tây thì cóvẻ phức tạp hơn vì ngoài 2 giai cấp đối kháng là chủ nô và nô lệ thì lại có thêm mộttầng lớp không bóc lột ai nhưng cũng không bị ai bóc lột, họ là những người dân tựdo nghèo, Mác đã gọi họ là tầng lớp “vô sản ăn bám” họ sống nhờ vào phúc lợi xãhội mà không cần phải lao động gì. Đó cũng là sự khác biệt giữa các quốc gia cổđại phương đông và các quốc gia đại phương Trong cơ cấu xã hội của các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng cósự khác nhau. Trong xã hội cổ đại phương đông nông dân công xã chiếm phần lớndân số trong khi đó số lượng nô lệ của các quốc gia cổ đại phương tây cao gấphàng chục lần số lượng chủ nô và bình Một đặc điểm khác của xã hội cổ đại phương đông và phương tây là do hình thứcthành bang phát triển nên tỉ lệ dân thành thị của họ rất cao, thành thị là trung tâmcủa thành bang, là nơi tập trung của cư dân. Trái lại ở các quốc gia phương tây tỉ lệdân nông thôn lại cao hơn thành thị điều này nói lên sự khác biệt về kinh tế xã hộigiữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia phương tây cổ đại đồng thờinó cũng rất có ảnh hưởng với xã hội các quốc gia này trong những giai đoạn pháttriển Giải thích sự giống và khác nhau về chính trị, xã hội giữa các quốc gia cổ đạiphương đông và phương Giải thích sự giống nhau về chính trị, xã hội-Có sự giống nhau giống nhau giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phươngtây vì các quốc gia này đều hình thành trên cơ sở tuân theo quy luật khách quan tấtyếu của lịch sử đó là “kế tiếp xã hội nguyên thuỷ cổ đại là xã hội chiếm nô với 2giai cấp cơ bản Giai cấp thống trị chủ nô và giai cấp bị trị nô lệ”Lịch sử thế giớicổ trung đại- Nghiêm Đình Vỳ chủ biên.-Như ta đều biết nhà nước ra đời khi xã hội ẩn chứa nhiều mâu thuẫn, khi mà sự tưhữu về tư liệu sản xuất đã đạt tới một mức độ nhất định. Nhà nước cổ đại có vai tròquản lý, điều hoà mâu thuẫn đó nhưng chủ yếu là thay mặt tầng lớp trên trong xãhội để trấn áp, bóc lột nhân dân. Vì thế về bản chất nhà nước là một cơ quan bóclột nhân dân không phân biệt sự khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội-Do cùng ra đời vào thời cổ đại nên xét cho cùng tổ chức chính trị, xã hội có mộtsố điểm giống nhau nhất định như tính sơ khai, tính bóc lột nguyên Giải thích sự khác nhau về chính trị, xã hội- Nguyên nhân hình thành chế độ tập quyền chuyên chế ở phương đông và nền dânchủ chủ nô ở phương tây. Do ở phương đông nền kinh tế nông nghiệp tự túc, tựcấp phát trỉển còn ở phương tây có nền kinh tế hàng hoá, công thương nghiệp pháttriển nên yêu cầu về chính trị, xã hội khác nhau. Ở phương đông với nền kinh tếnông nghiệp thì thuỷ lợi là vấn đề hàng đầu, nhưng trị thuỷ phải có sự góp sức củanhiều người vì thế chế độ tập quyền chuyên chế giúp vua có khả năng trong điềuhành các công việc chung dễ dàng hơn. Ngoài ra các vị vua phương đông thườngmượn thần quyền để tăng uy tín của mình. Trái lại ở phương tây họ hình thành cácquốc gia cổ đại muộn hơn nên có thể tiếp thu thành tựu phương đông. Trong cácquốc gia phương đông cổ đại Lưỡng Hà là nước dân chủ hơn cả cộng thêm vớiviệc thương nghiệp ở đây phát triển nên theo tôi các quốc gia phương tây đã họctập và hoàn thiện chế độ ở Lưỡng Hà và lập ra các nhà nước dân chủ chủ nô nhằmhạn chế sự chuyên quyền của vua đồng thời tạo tính dân chủ trong xã hội. Hơn nữanền kinh tế công thương nghiệp của họ không cần có một vị vua chuyên quyền đểcai trị, nền kinh tế công thương coi trọng sự công bằng hơn nữa họ muốn khôngchỉ có địa vị kinh tế mà còn có địa vị xã hội nên đó cũng có thể là lý do hình thànhnhà nước dân chủ chủ nô ở các quốc gia cổ đạu phương Nguyên nhân nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây phát triển một cách thuầnthục và điển hình trong khi ở các quốc gia phương đông thì không do ở phươngtây, kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ lực lượng dân tự do không đápứng kịp từ đó nảy sinh nhu cầu cần một lực lượng chính chuyên môn hoá sản xuất,phục vụ cho nhu cầu công thương nghiệp hơn nữa giữa các quốc gia cổ đại phươngtây thường sảy ra chiến tranh để cướp đoạt nô lệ, của cải vì thế số lượng bình dângiảm nhưng số lượng nô lệ lại tăng vì thế bóc lột bình dân như ở các nước phươngđông không không còn phù hợp. Vì thế theo em ban đầu nô lệ ở phương tây cũngmang tính gia trưởng như ở phương đông nhưng sau đó do nhu cầu phát triển kinhtế công thương nghiệp nên xã hội chiếm nô ở đây ngày càng phát triển tới mứcthành thục và điển Nguyên nhân của sự chênh lệch về thời gian hình thành giữa các quốc gia cổ đạiphương đông và phương tây do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khíhậu phù hợp, đất phù sa màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưngcũng phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợpnhất thành các liên minh bộ lạc lớn rồi từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thếngay cả khi loài người còn đang ở thời kì đá - đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưaxuất hiện thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước cổ đại. Trái lại, ở phương tâyđất canh tác không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp để canh tác nông nghiệpvì thế chỉ khi công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I TCN thì các quốc giacổ đại phương tây mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao các quốc giaphương tây phát triển công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp ở thờiđồ sắt lý do rất đơn giản vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hìnhthức kinh tế giúp con người tồn tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp pháttriển kể cả các quốc gia phương tây vì nông nghiệp là cơ sở để duy trì sự tồn tạicủa xã hội- Nguyên nhân sự khác nhau về giai cấp đối kháng giữa các quốc gia cổ đạiphương đông và phương tâylý do sự khác nhau đó đến từ thể chế chính trị, xã các quốc gia phương đông cổ đại hình thức chính trị xã hội chủ yếu của họ làhình thức tập quyền chuyên chế vì thế mâu thuẫn giai cấp chủ yếu sảy ra giữa nôngdân công xã và quý tộc, quan lại trong khi đó ở các quốc gia cổ đại phương tây nềndân chủ chủ nô phát triển mâu thuẫn chủ yếu là giữa chủ nô và nô lệ nhưng trongxã hội cổ đại phương tây lại có sự phức tạp hơn phương đông ở chỗ ngoài hai giaicấp đối kháng chủ yếu là chủ nô và nô lệ còn xuất hiện giai cấp bình dân họ khôngbị bóc lột như nô lệ nhưng cũng không bóc lột trực tiếp đối với nô lệ họ sống nhờvào phúc lợi xã hội giai cấp vô sản ăn bám . Giai cấp này hình thành trên cơ sở sựphát triển của chế độ chiếm nô khi của cải trong xã hội đã tích luỹ 1 lượng của cảiđủ nuôi sống cả xã hội. Họ sống nhờ vào chính quyền chiếm nô nên có quan hệ lệthuộc vào giai cấp trên, nhưng họ vẫn là dân nghèo nên cũng có những mâu thuẫnnhất định với giai cấp Nguyên nhân lãnh thổ của các quốc gia phương đông cổ đại lại rộng lớn vàthường xuyên ở tình trạng thống nhất hơn các quốc gia phương tây Do ở phươngđông có nhu cầu chung sức trị thuỷ các dòng sông lớn nên các tiểu quốc thường cóxu hướng hợp nhất với nhau vì thế các quốc gia phương đông cổ đại thường cólãnh thổ rộng lớn và thống nhất lãnh thổ hơn các quốc gia phương tây cổ đạitrừ đếchế Rôma. Còn ở các quốc gia cổ đại phương tây tiêu biểu là Hi Lạp các quốc giathường mang tính chất thành bang diện tích nhỏ và không có sự thống nhất về lãnhthổ là do không có nhu cầu trị thuỷ các dòng sông lớn, sự phát triển của kinh tếcông thương nghiệp không đòi hỏi nhu cầu thống nhất lãnh thổ nhưng về cơ bảnvẫn là do bị địa hình chia cắt bởi núi cao, sông dài. Chính sự chia cắt về tự nhiênvà việc các thành bang không thống nhất với nhau đã khiến lãnh thổ Hi Lạp cổ đạichưa từng có 1 vương triều thống nhất có chăng chỉ là một số thành bang mạnhvươn lên làm “minh chủ” một thời gian rồi sau này lại trở về cục diện ban đầu.=> Sự khác biệt chủ yếu giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là vềxã hội kinh tế, chính trị, điều kiện tự nhiên giống nhau đến mấy cũng không rõràng bằng nhà nước đó dựa vào nô lệ hay nông dân công xã là lực lượng chính laođộng để làm ra của cải vật chất. Theo tôi đó là cái thước đo xem nhà nước cổ đạinày thuộc các quốc gia cổ đại phương đông hay phương tây4. So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về nghệ thuậtBên cạnh các thành tựu khác như văn học, toán học, vật lý, y học, . ko thể ko kểđến nghệ thuật Kiến trúc và điêu khắc của văn minh phương tây và phương đôngcổ đại Nói đến nghệ thuật là nói tới cái đẹp. Thông qua sự phát triển của nghệ thuậtchúng ta có thể hiểu được ngoài nhu cầu vật chất con người còn có nhu cầu hưởngthụ về tinh thần, ngoài ra, thông qua nghệ thuật chúng ta còn có thể thấy được sựphát triển của khoa học kỹ thuật và sức sáng tạo kỳ diệu của con người qua từnggiai đoạn lịch đôngKtruc cổ của các nước phương Đông có đặc điểm là thường gắn với tôn giáo,người pđ rất trọng tâm linh nên họ thường tập trung của cải, sức lực để xây dựngcác đền tháp đồ sộ để mời các vị thần về, cầu mong các thần phù hộ. Do đó, ởPhương Đông nhiều công trình mang tính chất tôn giáo đã ra đời và dựng lên ở hầukhắp các nước một tấm thảm nghệ thuật vô cùng đa dạng và huyền bí . Từ nhữngtác phẩm nhỏ bé và tinh xảo tới những công trình khổng lồ , vừa mang nét thiêngliêng phồn thịnh của nền mỹ thuật Ấn Độ lại có những tác phẩm mang vẻ đẹp tinhvi óng chuốt của phong cách siêu quán Trung Hoa .Có thể nói, trong quá trình phát triển văn minh, người Phương Đông nói chung vàngười Ai Cập cổ đại nói riêng đã tạo ra những di sản văn hóa cực kỳ quý báu và đồsộ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kiến trúc Ai Cập cổ đại đã đạt tới một trìnhđộ rất cao. Kiến trúc Ai Cập cổ đại chủ yếu là các đền đài tôn giáo với các cấu trúckhổng lồ và sự thần bí của không gian, được xác định bởi các bờ tường dày và dốcvới ít lỗ mở. Các công trình kiến trúc tiêu biểu là cung điện, đền miếu và đặc biệtlà Kim tự tháp. Nói đến Ai Cập người ta nghĩ ngay đến những Kim tự tháp đứngsừng sững giữa sa mạc mênh mông. Chúng như những tấm bia khổng lồ ghi lạimột thời đại huy hoàng trong lịch sử kiến trúc nhân loại, thể hiện được sức sángtạo kỳ diệu của những người xây dựng nên nó. Bằng bàn tay và khối óc của mình,người dân Ai Cr />giáo của mảnh đất vậy ở ấn Độ, những công trình kiến trúc Hồi Giáo xuất hiện với vẻ đẹp lộng lẫy,nguy nga, tráng lệ và trường tồn với dòng chảy của thời gian cũng như trong niềmtự hào của những tín đồ Đạo Hồi. Đặc biệt, bên ngoài vẻ đẹp hoành tráng của kiếntrúc, thánh đường Hồi Giáo còn ẩn chứa nhiều nét đẹp văn hoá của người HồiGiáo, đó cũng là những giá trị tinh thần cao quý rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajantaở miền trung Ấn Độ. Từ một dải núi đá khổng lồ, người Ấn Độ cổ đại đã đục đẽo,chạm khắc tạo nên những công trình kiến trúc với tầm vóc kỳ vĩ cùng sự tỉ mỉ, tinhtế trong từng chi tiết. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa,các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên vách hangcó những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp. Tư tưởng Phật Giáo hòa quyệnmột cách tự nhiên giữa thế giới thánh thần và đời sống con người. Trong 16 ngôichùa hang có nhiều tranh vẽ bằng màu đỏ, xanh lá cây, xanh lam trên nền đá cẩmthạch, mô tả sinh động những điển tích Phật giáo. Đó là những tác phẩm mỹ thuậtvừa lộng lẫy vừa uy linh Những chùa hang ở Ajanta do bàn tay con người tạo nênbằng đá và khổng lồ như núi lớn, trong đó là cả một kho báu khổng lồ vô giá,không chỉ là nghệ thuật, mà còn là lịch sử, là dân tộc học, là xã hội học, là tôn giáohọc .Nghệ thuật Trung quốc phát triển theo hai hướng tạo thành hai cách mĩ cảm- Hướng trau chốt nghệ thuật cầu kì đến mức điêu luyện, được gọi là hướng “ khắcvàng vẽ nét, chạm trổ loá mắt” .- hướng bieu hiện nghệ thuật theo cái đẹp tự nhiên, chân chất, mộc mạc ,nhưngsâu xa, ý vị . Người Trung quốc gọi hướng này là khai thác cái đẹp” Phù dung mớinhú, tự nhiên đáng yêu” .Hai hướng nghệ thuật này đã chi phối toàn bộ sáng tạo nghệ thuật Trung quốc .Thành tựu hội hoạ Trung quốc Hội hoạ Trung quốc phát triển rất sớm, gắn với lối viết thao hình vẽ “chữ tượnghình” . Từ cơ sở này , dẫn tới nguyên tắc “ thư hoạ đồng nguyên”, và đẻ ra thưpháp viết chữ đẹp như vẽ , đó cũng là kiểu “chơi tài hoa” trên nét bút .Bức hoạ trên lụa đầu tiên tìm thấy vào thời Chu 1200-900 năm trước công lịch ,tức là trước thời Hán mất thế kỷ , bức hoạ này thể hiện cuộc đấu tranh giữa thiệnvà ác đã được tìm thấy ở một ngôi mộ cổ .Vẽ kỹ thuật biểu hiện Hội hoạ Phương Tây rất phong phú về đề tài và chủ đề, vìnó thiên về hiện thực . Ngay tranh tôn giáo cũng biết bao nhiêu cảnh Chúa trời tạoAđam – Êva .Ađam Êva phạm tội, Giêsu sinh ra trong máng cỏ , Ông GioăngBatixita bị vua Hêrôđơ Ăngtipát sai người chém đầu đặt lên đĩa, hoạ Trung Hoa truyền thống khác hẳn , đề tài và chủ đề rất chung, trừu tượng,ước lệ; hướng tới một phẩm chất , chứ không phải một hiện tượng , một vấn đề . Vìthế, tranh Trung quốc đều hướng tới sự giản dị, bình thản , tao nhã ,trang trọng,thanh tú , thuần hậu Nói chung họ mượn cảnh để nói tình, vì thế không quá câunệ vào các chi tiết, hoặc các biến cố khách quan . Đặc điểm trên đã chi phối cảhình hoạ lẫn lối sử dụng màu sắc và ánh sáng, bố cục .Rõ ràng , tranh Trung hoa không vẽ cái đang chuyển động trước mắt . Trong sốmuôn vàn sự vật đang biến đổi, hoạ sỹ Trung hoa chỉ muốn thâu lấy một vài trạngthái vĩnh cửu, một đặc điểm cơ bản của hiện tượng để người xem có thể mở tâmhồn mà đưa mình vào cõi mộng . Cũng có hoạ sỹ vẽ tỉ mỉ từng cảnh vật , tỉa tót rấtkỹ từng bụi cây, cành lá “ Thực” để nói cái “Hư”, vẫn không ngoài dụng ý dắt dẫnngười xem dò lần từng bước, vượt suối, băng đèo, cheo leo bên sườn núi lên títtrên cao, ẩn mình nơi chùa cổ, hoà mình vào tận cảnh sơn lâm, thuỷ tận .Với lối vẽ như vậy , thì cái nhìn của hội hoạ Trung Hoa đã không bị lệ thuộc vàoluật viễn cận , mà bố cục theo phép “ lên cao, thấy xa” , “ lấy lớn , thấy nhỏ”,Người ta còn gọi lối bố cục này là lối “ bố cục theo cảm nhận trực giác” . Phương TâyNếu như đối với Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại, nghệ thuật thể hiện cái đẹp rất đặctrưng của văn hóa Phương Đông thì khi nghiên cứu về nghệ thuật Phương Tây cổđại, trừ giai đoạn đầu có chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phương Đông, người họckhông khỏi ngạc nhiên trước những nét đẹp mang đậm màu sắc Tôn giáo củaPhương Tây, nét đẹp đó thể hiện qua ba mặt chủ yếu là kiến trúc, điêu khắc và Hy trúcKiến trúc Hy Lạp cổ đại và điêu khắc của nền văn minh Hy Lạp phát triển rực rỡvà để lại dấu ấn sâu sắc hơn cả. Những công trình điêu khắc Hy Lạp cổ thời gianđầu chịu ảnh hưởng của trường phái nghệ thuật phương Đông. Nhưng nghệ thuậttạo hình và điêu khắc đạt đến đỉnh cao là ở thời kỳ Hy Lạp hóa thế kỷ V đến thếkỷ IV trước Công nguyên. Nhiều công trình được sáng tạo bởi Polygnotus,Myron, Phidias. Tác phẩm Tượng thần Athena và Marsyas tại Vườn Bách thảocủa Copenhagen được sáng tác bởi Myron. Kiến trúc và điêu khắc Hy Lạp cổthường đi song hành bên nhau, những giá trị lớn tập trung tại các công trình kiếntrúc lớn, những bức tranh tường, những bức tượng lớn trong một đại sảnh là hìnhảnh thường gặp ở Athena. Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc của Hy Lạp cổ đại đãcó tác dụng kinh điển và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nền nghệ thuật của nhiềuquốc gia từ cổ đại cho đến ngày dù kế thừa những thành tựu nghệ thuật của Ai Cập và Lưỡng Hà nhưng ngwờiHi Lạp đã sáng tạo và phát triển một cách mạnh mẽ phong cách nghệ thuật riêngbiệt của mình, tạo ra những giá trị nghệ thuật đạt mức điêu luyện. Trong lĩnh vựckiến trúc, người Hi Lạp đã tạo ra những công trình kiến trúc bất hủ với thời trình kiến trúc đẹp nhất của Hi Lạp là đền Parthenon. Đây được xem là kiệttác về kiến trúc và là biểu tượng của kiến trúc Hi Lạp cổ. Người xây dựng nêncông trình này là là kiến trúc sư Ictinus dưới sự hướng dẫn của nhà điêu khắc thiêntài bộ đền được xây bằng đá trắng, xung quanh là dãy cột đã cẩm thạch hình trònđược chạm khắc tinh vi. Công trình thể hiện tài năng của một bậc thầy xuất chúngvề kiến trúc và điêu khắc. Kiệt tác này được giữ nguyên vẹn suốt 2000 năm, đến1697 mới bị chiến tranh tàn nghệ thuật kiến trúc của Hi Lạp, người ta dễ dàng nhận thấy nổi bật lên lốikiến trúc cột. Kiến trúc cột là cách người Hi Lạp tìm kiếm vẻ đẹp lý tưởng trongnghệ thuật kiến trúc. Những thức cột Hy Lạp đã mang đến cho kiến trúc một hìnhthức, một sức sống, chịu đựng được thử thách của thời gian, biểu trưng cho vẻ đẹptrong sáng, khỏe mạnh và tinh tế của kiến trúc cổ điển. Có 3 loại thức cột cơ bảntrong kiến trúc Hy Lạp cột Doric, cột Ionic và cột Corinth. Thức cột Hy Lạp đượcxem như biểu tượng của kiến trúc cổ trình tiêu biểu quần thể Aropolis ở Athens, trong đó có đền đến thời đế chế, nghệ thuật La Mã mới có điều kiện phát triển mang tính chấtriêng biệt và phản ánh đúng bản sắc nghệ thuật dân tộc. Mặc dù chịu ảnh hưởngnhất định của nghệ thuật Hi Lạp nhưng người La Mã cũng đã tạo ra những côngtrình mang đậm bản sắc riêng của mình với số lượng và quy mô vượt trúc La Mã mang tính chất thực dụng, bề thế và đồ sộ. Khi thiết kếnhững công trình kiến trúc, người La Mã chú ý đến tính năng sử dụng của nó hơnlà sự hài hòa, cân đối giữa công trình với môi trường xung quanh. Những đườngnét uốn lượn thay bằng những nét sổ thẳng hình học, vóc dáng các công trình đơnđiệu, nặng nề nhưng vững công trình tiêu biểu cho nghệ thuật và nếp sống của người La Mã là đấu trườngColosseum, nhà tắm Caracalla và đền thờ trúc của đấu trường Colosseum biểu hiện cho sự hùng cường và vĩ đại của đếchế La Mã triều đại Flavius. Công trình được xây dựng trong suốt 8 năm, chu vi524m, bao gồm nhiều tầng với vật liệu chủ yếu là đá cẩm thạch. Theo tính toánhiện nay, đấu trường chứa được khoảng đến người. do sự hủy hoạicuả thiên nhiên và con người, công trình hiện nay chỉ còn khoảng một phần là một công trình nhà tắm công cộng được hoàn thành dưới thời hoàngđế Alexander năm 235 với tổng diện tích lên đến hecta. Đây không chỉ đơnthuần là nơi giải trí mà còn là một công trình văn hóa với các thư viện và phòngđọc sách, được trang bị các khu thi đấu thể thao, nghỉ dưỡng, nhà hàng ăn, phòngtrưng bày nghệ thuật Đây là một sự tiến bộ không chỉ về nghệ thuật mà còn là sựvăn minh trong đời sống văn hóa của người La Pantheon được xây dựng dưới thời hoàng đế Agustus. Công trình bị hủy hoạisau hai trận hỏa hoạn và được xây dựng lại vào thời hoàng đế Hadrian 117-138sau đó được chuyển thành nhà thờ Công khắcCùng với nghệ thuật kiến trúc với những công trình đã trở thành kiệt tác của nhânloại, nghệ thuật điêu khắc Hi Lạp cũng được xem là những giá trị có một không haitrong nền nghệ thuật thế giới. Hai nhà điêu khắc vĩ đại nhất của Hi Lạp là Praxitelevà Scopas ở thế kỉ IV TCN. Tượng thần Hermes và thần Aphrodite thần vệ nữ Venus, được xem là những mẫu mực của nghệ thuật điêu khắc cổ đại, thể hiện vẻđẹp hoàn hảo của nam và nữ. Cho đến ngày nay, với một nền nghệ thuật hiện đại,
Văn minh là thuật ngữ quen thuộc, tuy nhiên không phải ai cũng hoàn toàn có thể định nghĩa đúng chuẩn. Trong bài viết tất cả chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu và khám phá về khái niệm văn minh là gì ? Đồng thời khám phá những điểm điển hình nổi bật tiêu biểu vượt trội của hai nền văn minh phương Đông và văn minh phương Tây của nền lịch sử dân tộc văn minh quả đât .1. Văn minh là gì?Theo văn minh thuộc danh từ Hán Việt, trong đó chữ ” văn ” mang nghĩa vẻ đẹp, còn ” minh ” là sáng. Hàm ý chỉ tia sáng của đạo đức, biểu lộ ở văn hóa truyền thống, chính trị, pháp lý và nghệ thuật và thẩm mỹ .Văn minh là khái niệm chỉ mang đặc thù tương đối, thể hiện trạng thái văn minh về mặt vật chất, khoa học kỹ thuật và máy móc nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nhu yếu của con người trong xã hội. Trái nghịch với văn minh là hoang dã, và lỗi thời .Bạn đang đọc Sự khác biệt của nền văn minh phương Đông và phương Tây? UNESCO định nghĩa “ Văn minh là khái niệm dùng để chỉ trình độ tăng trưởng về giá trị vật chất là hầu hết của một hội đồng người trong một tiến trình lịch sử vẻ vang nhất định đặc trưng cho một khu vực to lớn, một thời đại hoặc cả quả đât ”. Văn minh đã giúp cho tất cả chúng ta thực thi quyền sống, quyền dân chủ và tự do của từng cá thể .Văn minh được định nghĩa khác nhau tùy theo góc nhìn và mỗi nền văn hóa truyền thống. Theo ý niệm phương Tây, văn minh trong tiếng Pháp là civilisation, còn trong tiếng Anh văn minh được bộc lộ bằng từ civilization .Chữ văn minh trong tiếng Anh và tiếng Pháp có phần tương đương nhau, cả hai đều có căn gốc Latinh là “ civitas ” với ý nghĩa là đô thị ; thành phố. Mang hàm ý chỉ quy trình tiến độ con người đã chuyển từ thực trạng cư trú, sinh sống theo tự nhiên sang định cư tổ chức triển khai đô thị và mạng lưới hệ thống tiếp xúc mang tính hình tượng như chữ viết .Nhìn chung, định nghĩa văn minh gồm có bốn yếu tố cơ bản như sau đô thị, nhà nước, chữ viết và những giải pháp kỹ thuật cải tổ mang đến sự tăng trưởng và tân tiến vào đời sống của con người .2. Sự khác nhau giữa văn minh và văn hóaTuy nhiên, tất cả chúng ta hay nhầm lẫn giữa “ văn minh ” và “ văn hóa truyền thống ”. Bây giờ tất cả chúng ta cùng nhau tìm hiểu và khám phá sự khác nhau giữa hai khái niệm này là gì nhé ! Trước tiên cần phân biệt khái niệm văn hóa truyền thống là gì ?Văn hóa dùng để chỉ cách ta tâm lý, cư xử và hành vi. Như đã biết văn minh là quy trình mà một vương quốc / xã hội bước vào quy trình tiến độ tăng trưởng, văn minh của con người .Theo những nhà xã hội học của thế kỷ 19, văn hóa truyền thống tăng trưởng sớm hơn văn minh, có văn hóa truyền thống mới hoàn toàn có thể tạo ra văn minh và không chiều ngược lại. Văn minh là một tập hợp phức tạp được tạo thành từ nhiều thứ trong đó có văn hóa truyền thống. Nói cách khác, văn hóa truyền thống được sống sót trong một nền văn minhĐồng thời tất cả chúng ta hoàn toàn có thể xét về tính thừa kế, vì tính phức tạp của mình mà văn minh không hề được học hỏi và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác giống như văn hóa truyền thống .Một điểm dễ nhìn thấy nhất, chính là văn hóa truyền thống phần lớn được biểu lộ trong tôn giáo, phong tục – tập quán, văn học – nghệ thuật, đạo đức, … Còn văn minh thì biểu lộ ở những nghành nghề dịch vụ như hành chính, kiến trúc, luật, hạ tầng – kỹ thuật. Từ đó biểu lộ qua bên ngoài, mà ta hoàn toàn có thể nhìn thấy được bằng những tác dụng đơn cử từ loại sản phẩm, thiết bị, công nghệ tiên tiến và mạng lưới hệ thống hạ tầng .Khi nhắc đến lịch sử dân tộc văn minh của quả đât, tất cả chúng ta không hề không nhắc đến văn minh phương Đông được sinh ra từ rất sớm. Ở quá trình này đã hình thành và tăng trưởng nhiều thành tựu văn minh điển hình nổi bật .Bốn nền văn minh phương Đông thường được nhắc đến là văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai cập, văn minh Trung Quốc và văn minh Ấn Độ . Văn minh Lưỡng HàKhi nhắn đến, nền văn minh Lưỡng Hà có lẽ rằng ta sẽ nhớ ngay đến những thành tựu điển hình nổi bật trong văn học, có tác động ảnh hưởng lớn đến khu vực Tây Á gồm có hai thể loại chính văn học dân gian và sử thi .Theo đó, văn học dân gian như ca dao, truyện ngụ ngôn … phản ánh chân thực đời sống lao động của dân cư và cách sống ở đời con người. Sử thi Open từ thời Xume, đến thời Babylon chiếm một vị thế vô cùng quan trọng .Văn học sử thi thường nhắc đến chủ đề ca tụng những vị thần, đồng thời những câu truyện về “ khai thiên lập địa ” phát minh sáng tạo ra loài người, hay “ nạn hồng thủy ” … trong kinh thánh .Nền văn minh Lưỡng Hà là cũng là khu vực sống sót những bộ luật sớm nhất. Từ thời vương triều III của thành bang Ua thế kỷ XXII-XXI TCN , đã cho phát hành bộ luật cổ nhất quốc tế .Tuy nhiên ngày này chỉ còn lại 1 số ít đoạn nói đến yếu tố thừa kế gia tài, nuôi con nuôi, bảo vệ vườn quả hay nghĩa vụ và trách nhiệm của người chăn nuôi so với súc vật, sự trừng phạt so với nô lệ chạy trốn, … Văn minh Ai cậpTrong nền văn minh Ai Cập cổ đại, tất cả chúng ta không hề không nhắc đến những thành tựu điển hình nổi bật về chữ viết, văn học, kiến trúc và những kiến thức và kỹ năng khoa học tự nhiên .Chữ viết của Ai Cập khởi đầu là chữ tượng hình từ từ xuất hiện hình vẽ biểu lộ âm tiết, dựa vào đó những chữ chỉ âm tiết được tăng trưởng thành vần âm. Nhờ vậy, tổng số chữ tượng hình có khoảng chừng 1000 chữ, trong đó 24 vần âm .Nền văn minh Ai Cập cũng chiếm hữu kho tàng văn học phong phú thể loại như thơ ca trữ tình, tục ngữ, đặc biệt quan trọng là những câu truyện trào phúng, truyền thuyết thần thoại mang đến bài học kinh nghiệm giáo huấn cho con người .Trong thời kỳ này, người dân Ai Cập thường thờ cúng những vị thần vạn vật thiên nhiên như Địa thần và Thủy thần, thần thú gồm có phượng hoàng, nhân sư, thậm chí còn là loại động vật hoang dã dã thú, gia súc, chim đến côn trùng nhỏ đặc biệt quan trọng là bò mộng Apix .Nhắc đến nền văn minh Ai Cập ta cũng không hề quên tục ướp xác người đã mất. Kiến trúc của nền văn minh Ai Cập cổ đại cũng đạt đến trình độ rất cao, dẫn chứng là một số ít khu công trình nổi tiếng vẫn còn sống sót cho đến ngày này như Kim Tự Tháp, hoàng cung hay đền miếu . Văn minh Trung Hoa Người Trung Quốc chế tạo ra la bàn Nền Văn minh Trung Quốc thời cổ – trung đại có sức ảnh hưởng tác động không nhỏ đến những nước phương Đông. Người Nước Trung Hoa đã có Giáp cốt văn tức là chữ viết trên mai rùa, xương thú. Sau đó, từ từ biến hóa thành Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, chữ viết mới trong khuôn hình vuông gọi là chữ Tiểu triện .Nhắc đến Trung Hoa, ta không thể quên tập thơ cổ đã được Khổng Tử sưu tập và chỉnh lý. Thơ Đường là điểm sáng trong nền thơ ca, với những tác giả nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ hay Bạch Cư số tác phẩm tiểu thuyết được lưu truyền cho đến ngày như, thậm chí còn ngày này còn được chuyển thể thành phim và mang đến nhiều bài học kinh nghiệm giá trị cho con người như Tam quốc chí diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây du ký hay Hồng lâu mộng .Về lĩnh vực, khoa học tự nhiên và kỹ thuật, trong nền văn minh Trung Hoa đã biết sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Nam-Bắc triều, nhà toán học Tổ Xung Chi còn tìm ra số pi xấp xỉ là 3,14159265. Xem thêm Đổi mới PPDH các môn văn hóa Anh Mỹ và giáo thoa văn hóa thông qua dự án Người Nước Trung Hoa cũng vẽ được map có tới 800 vì sao và xác lập chu kì hoạt động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi .Đặc biệt, trong nền văn minh Trung Quốc đã có bốn ý tưởng quan trọng góp phần cho quả đât là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Kiến trúc cũng là niềm tự hào của họ, khi chiếm hữu những khu công trình nổi tiếng trên toàn toàn quốc tế như Vạn lí trường thành, Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành .Thuyết âm khí và dương khí, Bát quái, Ngũ hành cũng được sinh ra trong thời kỳ này. Theo đó, thuyết âm khí và dương khí cho rằng thiên hà luôn sống sót hai loại khí là âm và dương. Thế giới được tạo thành từ 8 yếu tố Càn trời , Khôn đất , Chấn sấm , Tốn gió , Khảm nước , Ly lửa , Cấn núi , Đoài hồ , gọi chung là Bát quái. Và có 4 nguyên tố tạo thành vạn vật là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ .Về tư tưởng, trong nền văn minh Trung Hoa đã xuất hiện nhiều những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Lão Tử và Trang Tử đưa ra những đạo lý làm nhân, lối sống ở đời cho hợp luân thường đạo lý, nhằm tổ chức xã hội và giải thích những vấn đề trong đời sống. Văn minh Ấn ĐộTrong nền văn minh của Ấn Độ đã mang đến những ý tưởng quan trọng không chỉ so với người dân Ấn Độ mà còn cả quốc tế. Trong đó, họ chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ năm năm thì thêm 1 tháng nhuận .Ngoài ra, trong thời kỳ này đã biết được quả đất và mặt trăng là hình cầu, tính được quỹ đạo của mặt trăng và chu kỳ luân hồi trăng tròn, trăng khuyết. Chưa dừng lại, những nhà thiên văn học Ấn Độ còn đánh giá và nhận định có 5 hành tinh trên toàn cầu gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ; biết được 1 số ít chòm sao và sự quản lý và vận hành ngôi sao 5 cánh chính .Người Ấn Độ có một ý tưởng ra 10 chữ số trong nghành nghề dịch vụ toán học, mà ngày này được dùng phổ cập. Đến thế kỷ VI, người Ấn Độ tính số pi là 3,1416 và diện tích quy hoạnh hình vuông vắn, hình chữ nhật, hình tam giác lẫn hình đa giác. Học thuyết nguyên tử cũng được sinh ra trong quá trình này .Điểm nổi trội trong ngành y khoa, từ thế kỷ VI, V TCN, người Ấn Độ biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận. Và điều chế thuốc tê giúp giảm đau khi mổ cho bệnh nhân .Như bạn đã biết, đạo Phật cũng có nguồn gốc từ Ấn Độ, sau đó mới lan rộng ra những vương quốc trong đó có Nước Ta. Ngoài ra còn có 1 số ít tôn giáo khác như đạo Bàlamôn, đạo Hindu, hay đạo Xích .Xem thêm Phật Pháp và những câu nói giúp bạn nhận ra cuộc sống thật vô thường4. Văn minh phương tây có điểm gì khác biệt? Trong nền văn minh phương Tây chiếm hữu điều kiện kèm theo vạn vật thiên nhiên thuận tiện cho việc hình thành con đường giao thương mua bán hàng hải, tàu cảng, … khi những quốc gia thuộc khu vực Địa Trung Hải, đường biên giới có 3 mặt tiếp giáp biển .Từ đó, thôi thúc những hoạt động giải trí kinh tế tài chính, giao lưu kinh doanh sản phẩm & hàng hóa giữa những vương quốc ; song song với đó sẽ mang những thành tựu văn minh phương Tây truyền bá thoáng đãng trên quốc tế .Theo đó, hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã giữ vai trò, góp phần nhiều thành tựu tân tiến vào nền văn minh phương Tây, đặt nền móng và tiếp thêm lửa cho thời Phục hưng ở Tây Âu, cũng như vào sự tăng trưởng chung của quả đât sau này .Hy Lạp có nền văn minh nổi bật Văn minh Hy Lạp Người Hy Lạp biết thêm những nguyên âm dựa trên vần âm của xứ Phoenicia và biến nó thành chữ Hy Lạp. Theo thời hạn, hình thành nên chữ Latinh và chữ Slavơ trở thành tiền đề cho chữ viết cho nhiều dân tộc bản địa trên quốc tế thời nay .Văn học cũng là một trong những thành tựu tiêu biểu vượt trội trong nền văn minh Hy Lạp với kho tàng truyện truyền thuyết thần thoại, với những tác phẩm còn giữ nguyên giá trị cho đến lúc bấy giờ như Iliad và Odyssey của Homer. Đồng thời, còn mở màn cho mô hình nghệ thuật và thẩm mỹ xen kẽ hai yếu tố thảm kịch lẫn hài kịch với nhau .Lũy thành của Athen là hình tượng cho bước tân tiến rõ ràng về mặt kiến trúc của nền văn minh Hy Lạp lúc bấy giờ, trở thành di sản văn hóa truyền thống cho cả quả đât .Nền văn minh Hy Lạp nói riêng hay nền văn minh Hy – La nói chung, đã cho chứng tỏ được những nổi trội về mặt y học, khi đã biết cách chữa bệnh bằng giải pháp uống thuốc hoặc phẫu thuật. Theo đó, thầy thuốc Hippocrates là người tạo ra phương phương này và được ca tụng là “ Cha đẻ của y học Phương Tây ” .Như chúng ta đã biết về định lý Pythagoras được áp dụng trong lĩnh vực toán học cũng có nguồn gốc từ thời kỳ này. Các nhà khoa học, vật lý học người Hy Lạp cũng đã đề ra nguyên lí đòn bẩy, chế ra gương cầu lõm, máy bắn đá và phát hiện ra lực đẩy Acsimet. Ngành công nghiệp vận tải biển đã có từ thời cổ đại cũng chiếm “mũi nhọn” trong nền kinh tế của Hy Lạp cho đến ngày nay. Song song với các ngành nghề như dệt, hóa chất, dầu khí, đóng tàu, hay khai thác khoáng sản,… Văn minh La Mã Nền văn minh La Mã chịu tác động ảnh hưởng, thừa kế 1 số ít ưu điểm nổi trội từ nền văn minh Hy Lạp. Về chữ viết, La Mã có chữ viết chính thức vào thế kỉ VI TCN cũng có nguồn gốc từ văn tự Hy Lạp. Đây được cho là loại chữ viết khá đơn thuần, được vận dụng phổ cập. Sau này, chữ viết này từ từ được sử dụng ở những nước trên quốc tế .Văn học La Mã cũng thừa kế những “ điểm sáng ” từ nền văn minh Hy Lạp, tuy nhiên cũng có sự tăng trưởng thêm về thể loại như thơ, kịch, sử thi và cải biên hình thành hình tượng những vị thần riêng như thần Zeus – thần Yamaha Jupiter, thần Hera, …Nền văn minh La Mã tuy chịu tác động ảnh hưởng từ Hy Lạp nhưng đã tạo những khu công trình kiến trúc đồ sộ, độc lạ. Có thể kể đến như đấu trường Colosseum, phòng tắm Caracalla và đền thờ Pantheon .Không chỉ vậy, nghành điêu khắc cũng chiếm hữu nhiều tác phẩm để đời gồm pho tượng Vệ nữ ở Milo, tượng Lực sĩ ném đĩa, tượng nữ thần Athena, tượng thần Hecmet …Đặc biệt, trong thời kỳ văn minh La Mã đã cho ra đời tác phẩm “ Lịch sử tự nhiên ” được coi như quyển Bách Khoa toàn thư, tập hợp hàng loạt tri thức từ những nghành nghề dịch vụ từ Thiên văn học, Vật lí học, Địa lí học, cho đến Động vật học, Thực vật học … của nhà khoa học Plinius .Mặc dù nền văn minh Hy – La có nhiều điểm tương đương, nhưng nền văn minh La Mã cũng có những độc lạ, khi La Mã đã biết sử dụng tiền đồng Sestertius, vận dụng chủ nghĩa duy lý kinh tế tài chính – sử dụng mạng lưới hệ thống kế toán, tín dụng thanh toán và góp vốn đầu tư ngân hàng nhà nước .Bạn có biết, điều gì giúp phương Tây thống trị quốc tế trong suốt 500 năm ?Niall Ferguson cho rằng, văn minh phương Tây tăng trưởng tỏa nắng rực rỡ, trở nên giàu mạnh là dựa vào “ 6 ứng dụng trinh sát ” gồm cạnh tranh đối đầu, khoa học, pháp quyền, y học văn minh, chủ nghĩa tiêu dùng và đạo lý nghề nghiệp .Trải dọc chiều dài lịch sử, văn minh phương Tây đóng vai trò trung tâm bên cạnh các nền văn minh khác, trở thành hình mẫu của đa số các quốc thế trên thế giới. Xem thêm Đổi mới PPDH các môn văn hóa Anh Mỹ và giáo thoa văn hóa thông qua dự ánMong rằng, qua bài viết bạn hoàn toàn có thể hiểu khái niệm văn minh, cũng như biết thêm những nét điển hình nổi bật của hai nền văn minh phương Đông lẫn văn minh phương Tây .Sưu tầmNguồn ảnh Internet
PHẦN MỞ ĐẦU Lịch sử văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Loài người ra đời và đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần cách đây hàng triệu năm. Ở phương Đông tức ở Châu Á và Đông Bắc Châu Phi, từ cuối thiên niên kỷ IV – đầu thiên niên kỷ III trước CN, có bốn trung tâm văn minh lớn, đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Cả 4 trung tâm này đều nằm trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile ở Ai Cập, sông Euphrates và sông Tigris ở Lưỡng Hà, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Trường Giang và Hoàng Hà ở Trung Quốc. Nhờ sự bồi đắp của những con sông này nên đất đai ở đây màu mỡ, rất thuận lợi cho nền nông nghiệp xuất hiện và phát triển và hơn thế nữa là sáng tạo những thành tựu văn minh rực rỡ. Phương Đông cũng là cái nôi của văn minh nhân loại, nơi mà lần đầu tiên con người đã biết sáng tạo ra chữ viết, văn học, nghệ thuật và nhiều tri thức khoa học khác Ở phương Tây xuất hiện nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Tuy muộn hơn phương Đông từ thiên niên kỷ III đến thiên niên kỷ II trước CN nhưng Hy Lạp đã đạt được những thành tựu to lớn. Đến thế kỷ VI TCN, nhà nước La Mã bắt đầu xuất hiện. Kế thừa và phát huy văn minh Hy Lạp, La Mã trở thành một trung tâm văn minh lớn ở phương Tây. La Mã chinh phục Hy Lạp thế kỷ II TCN và tiếp đó chinh phục các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp ở phương Đông, trở thành đế quốc rộng lớn, hùng mạnh. Văn minh La Mã vốn chịu ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp, vốn có cùng một phong cách, giờ đây lại hòa đồng và tiếp biến với nó, nên người ta gọi chung hai nền văn minh này là văn minh Hy – La. Những thành tựu rực rỡ của văn minh Hi-La cổ đại được ghi vào lịch sử nhân loại như những ánh hào quang rực rỡ nhất. đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh châu Âu nói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủ mọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương Tây cổ trung đại được khẳng định và thừa nhận xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnh hưởng đến thời đại ngày nay. Nói đến văn minh Phương Đông không thể không đặt nó trong mối tương quan với văn minh Phương Tây. Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếu tính khách quan, cần đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Giữa 2 nền văn minh này có nhiều điểm giống và khác nhau, tìm ra những điểm ấy của văn minh đông – tây cũng là tìm ra mấu chốt, là chìa khoá để mở ra cánh cửa đóng kín từ lâu của thế giới cổ đại đầy bí ẩn. Với tiểu luận này, tôi xin trình bày một số điều mình nghĩ về sự giống và khác nhau giữa các quốc gia cổ đại phương đông, phương tây trong thế giới cổ đại. Khoảng 3500 năm đến 2000 năm trước công nguyên, cư dân ở Tây Á, Ai Cập và cư dân ở lưu vực các sông còn lại đã sinh sống trên đồng bằng ở ven các con sông. Họ sống bằng nghê nông là chủ yếu và biết trồng mỗi năm hai vụ. Đồng bằng ven sông đã bù đắp rất nhiều cho con người. Vào mùa mưa hàng năm, nước sông dâng cao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ và làm cho đất rất mềm, dễ làm với cả những chiếc cày bằng gỗ. Cư dân phương Đông sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trước tiên họ phải lo đến công tác thuỷ lợi. Họ đã biết đào các hệ thống kênh, lập hệ thống gầu để múc nước ở chân ruộng thấp và đưa nước lên chân ruộng cao những khi cần. Ngoài ra, họ còn biết đắp đê để ngăn lũ nhờ thế con người có thể thu hoạch lúa ổn định hằng năm. Công việc trị thuỷ khiến moi người gắn bó và ràng buộc với nhau trong tổ chức công xã. Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại Hi Lạp cổ đại Hi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thần biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nước mình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ Trung Quốc, ta gọi là Hi Lạp. Đất đai Hi Lạp cổ đại bao gồm Hi Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean tới phía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùng lục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkans. Lục địa Hi Lạp gồm 3 phần miền Bắc là vùng đồng bằng rộng lớn và quan trọng nhất Hi Lạp; miền Trung ngăn cách với phía bắc bởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trù phú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hình bàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện nhà nước thành bang đầu tiên của Hi Lạp – nhà nước Sparta. Mặc dù có nhiều đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hi Lạp không phì nhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương thực chính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai Cập. Địa hình Hi Lạp tương đối trở ngại về giao thông đường bộ nhưng có sự thuận lợi tuyệt vời với con đường giao thông trên biển, bờ biển có nhiều cảng, vịnh, thuận lợi cho tàu bè hoạt động. Từ đây, người Hi Lạp dễ dàng tới vùng Tiểu Á, Bắc Hải để giao thương. Nằm giữa vùng tiếp giáp giữa 3 châu, Hi Lạp sớm tiếp thu những thành tựu của nền văn minh phương Đông cổ đại và tạo ra một nền văn minh Hi Lạp cổ đại độc đáo và rực rỡ, với những thành tựu tuyệt vời đóng góp cho sự phát triển của văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung. La Mã cổ đại Nơi phát sinh quốc gia La Mã cổ đại là bán đảo Ý – một dải đất dài và hẹp như chiếc hia duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải với diện tích lớn gấp 5 lần bán đảo Hi Lạp. Phía Bắc có dãy núi Apels như một bức tường thành tự nhiên ngăn cách bán đảo với lục địa châu Âu; ba phía Đông, Tây, Nam đều có biển bao bọc. Dãy núi Apennines như một chiếc xương sống chạy dọc bán đảo từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khác với Hi Lạp, điều kiện tự nhiên của La Mã tương đối thuận lợi hơn. Nơi đây có nhiều đồng bằng rộng lớn, màu mỡ và phì nhiêu đồng bằng sông Pô miền Bắc, đồng bằng sông Tibrơ miền Trung, các đồng bằng trên đảo Xixin. Ở miền Nam còn có nhiều đồng cỏ rộng lớn thuận tiện cho việc phát triển nghề nông và chăn nuôi gia súc. Ở phía Tây và Nam, bờ biển có nhiều cảng, tàu bè ra vào dễ dàng, thuận lợi cho giao thông và buôn bán. Tóm lại đặc điểm kinh tế. Kinh tế của họ phát triển đến thời cổ đại đều đã kinh qua nền sản xuất nguyên thuỷ, công xã thị tộc. Hay nói cách khác sự tan rã của nền kinh tế nguyên thuỷ là tiền đề để hình thành nền kinh tế cổ đại ở cả các quốc gia phương đông và phương tâyì đều trải qua nền sản xuất nguyên thuỷ nên họ đều có những điểm giống nhau, đều trải qua mô hình sản xuất công xã thị tộc, công xã nông thôn, đều có nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp -Kinh tế của họ phát triển đều dựa vào điều kiện tự nhiên, phát huy thế mạnh mà tự nhiên ban tặng cũng như hạn chế đến mức tối đa các khó khăn từ điều kiện tự nhiên gây ra với kinh tế ở phương đông là tận dụng lương mưa và đất phù sa để phát triển nông nghiệp, hạn chế hậu quả do lũ lụt gây ra, ở phương tây là phát huy thế mạnh về hàng hải và thủ công nghiệp, hạn chế khó khăn do thiếu hụt lương thực gây raở phương tây, đất đai không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nên phải dựa vào thương nghiệp để mua lương thực cho những năm mất mùa Ở cả các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều đã có đủ sự khác nhau chỉ ở chỗ họ lấy nghành kinh tế nào là mũi nhọn để phát triển mà thôi. Ở phương Đông đặc trưng kinh tế của họ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cấp,tự túc tế thủ công nghiệp và thương nghiệp có tồn tại nhưng không có điều kiện phát triển, được coi như nghề phụ trong những lúc nông nhànái lại các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế chủ yếu của họ là thủ công nghiệp và thương là nơi hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá cổ đại đây ta sẽ đi rõ vào chi tiết từng ngành sản xuất để thấy rõ hơn sự khác biệt trên nông nghiệp các quốc gia cổ đại phương đông nông nghiệp trồng lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại phương đông. Bên cạnh việc lấy nghề nông làm gốc, cư dân phương đông thời cổ đã biết chăn nuôi gia súc như bò, cừu, lợn , và biết trồng các loại ngũ cốc khác nhau như ngô, lúa mạch, kê, vừng và các loại cây ăn quả khác. Chính vì các nghành nông nghiệp phát triển theo hướng tự túc, tự cấp như vậy nên kinh tế hàng hoá không phát triển, nhu cầu trao đổi buôn bán hàng hoá ít. Lối sản xuất này của họ đã gần như bóp nghẹt kinh tế công thương nghiệp và tạo ra sự trì trệ tương đối nhưng vì 3 trong 4 quốc gia cổ đại phương đông nằm biệt lập với thế giới bên ngoài nên nền kinh tế tự túc, tự cấp là phù hợp với điều kiện phát triển của họ. Chỉ có Lưỡng Hà nằm ở nơi địa hình bằng phẳng nên phát triển hơi khác về kinh tế họ phát triển công thương nghiệp và là một trung tâm thương nghiệp lớn trong thế giới cổ đại họ có nhiều nét giống các quốc gia cổ đại phương tây nhưng về bản chất họ vẫn lấy nghề nông làm gốc điều này thể hiện rất rõ qua bộ luật Hammurabi bộ luật thành văn đầu tiên của thế giới bộ luật này chủ yếu bảo vệ nông nghiệp và quan hệ sản xuất nông nghiệp. 1Ở các quốc gia cổ đại phương tây nền kinh tế nông nghiệp không phát triển như các quốc gia cổ đaị phương đông. Nền nông nghiệp của họ chủ yếu gắn với thị trường và phục vụ nhu cầu của thị trường. Cây trồng chính của họ không phải là cây lúa nước họ chủ yếu trồng lúa mì và các cây công nghiệp lâu năm như nho, ô liu Như vậy ta có thể thấy nền nông nghiệp của họ không chỉ để phục vụ nhu cầu cá nhân mà còn phục vụ nhu cầu của thị trường. Từ đó ta có thể thấy rõ sự phát triển của yếu tố thị trường trong sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là sự khác nhau cơ bản của sản xuất nông nghiệp phương đông và phương tây. 2. Trong thủ công nghiệp các quốc gia phương đông họ đã biết làm nhiều nghề thủ công với những dấu ấn riêng ở mỗi quốc gia như đồ gốm sứ ở Trung Quốc, Lưỡng Hà, dệt ở Trung Quốc, làm giấy ở Ai Cập nhưng kinh tế thủ công nghiệp ở đây vẫn bị cho là nền kinh tế bổ trợ cho nông nghiệp. Vì vậy độ chuyên môn hoá trong sản xuất thủ công nghiệp chưa cao. Ở nhiều nơi nghề thủ công chỉ được coi như “nghề phụ” là việc sông Nin ở Ai Cập, Sông Tigơrơ và Ơphơrát ở Lưỡng Hà, Sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc. Chính các con sông này đã tạo nên các đồng bằng phì nhiêu, các vụ mùa bội thu và quan trọng nhất là tạo ra các nhà nước cổ đại phương đông. Không một quốc gia phương đông cổ đại nào mà lại không có một dòng sông lớn chảy qua. Nhờ lớp đất phù sa có nơi dày tới vài mét nên nông nghiệp phương đông vẫn phát triển dù thời kì đó công cụ lao động của họ chủ yếu là gỗ, đá và đồng đỏ họ có thể canh tác mà không cần công cụ bằng sắt. Một yếu tố tự nhiên khác làm cho sự phân hoá đông – tây là khí hậu và địa hình. Như ta đã biết một quốc gia muốn phát triển kinh tế thì phải dựa vào điều kiện khí hậu và địa hình. Ví dụ ở nước ta cũng như đa số các quốc gia phương đông nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển do nó hình thành trên cơ sở các đồng bằng rộng lớn có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Sở dĩ 2 yếu tố này đi với nhau vì nó bổ xung lẫn nhau vì có những nơi như ở La Mã cổ đại có các đồng bằng khá lớn như đồng bằng Pô và đồng bằng Tibrơ nhưng nền kinh tế nông nghiệp không dữ vai trò chủ đạo vì khí hậu ở đây là khí hậu Địa Trung Hải tuy có nhiều nét giống với khí hậu nhiệt đới nhưng lượng mưa hàng năm ít hơn nhiều, còn ở một số vùng như ở Trung Phi và một số vùng núi cao ở nước ta lượng mưa trong năm khá cao nhưng do địa hình gồ ghề không có các đồng bằng châu thổ rộng lớn nên không có điều kiện phát triển nhà nước. Theo như những gì nãy giờ ta phân tích về sự quan trọng của sông ngòi, địa hình, khí hậu làm nền tảng cho nền nông nghiệp phương đông thì những điều kiện đó không có đủ như ở các quốc gia phương tây. Vậy cơ sở tự nhiên để hình thành các quốc gia cổ đại phương tây là gì? Như đã nói từ đầu nền kinh tế các quốc gia cổ đại phương tây là nền kinh tế dựa trên sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp, nông nghiệp chỉ là thứ yếu, là nguyên liệu cho thủ công nghiệp và thương nghiệp vì thế các quốc gia cổ đại phương tây không cần các điều kiện như ở phương đông. Nhưng họ cũng là con người, cũng phải tuân theo các quy luật nhất định nhà nước chỉ hình thành khi kinh tế đạt đến một mức nào đó khi mà quan hệ công xã thị tộc bị giải thể vì sự tư hữu trong tư liệu sản xuất. Các quốc gia phương tây không cần các điêu kiện như phương đông vì họ dựa trên thủ công nghiệp và thương nghiệp. Hi Lạp và La Mã đều là các quốc gia nằm trên các bán đảo lớn ăn ra biển, có nhiều vũng, vịnh kín gió thuận lợi cho phát triển hàng hải. Hơn nữa 2 bán đảo Bancăng và Italia đều nằm trong vùng biển Địa Trung Hải vùng biển này 3 mặt là 3 châu lục Á, Phi, Âu bao bọc nên tương đối yên bình, ít bão lớn. Vì thế từ thời cổ đại khi kĩ thuật đóng tàu chưa phát triển hoàn thiện người ta vẫn có thể vượt biển để buôn bán. Đất đai và khí hậu ở đây tuy không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước nhưng bù lại khí hậu và đất đai ở đây lại thuận lợi cho việc trồng một số cây công nghiệp lâu năm như nho, ôliu. Đây là nguyên liệu để sản xuất rượu nho và dầu ôliu 2 mặt hàng có thể cho là “đặc sản” của các quốc gia cổ đại phương tây. Hơn nữa đất đai của họ không thích hợp với sản xuất nông nghiệp nên để có nguồn lương thực đáp ứng nhu cầu họ phải tiến hành trao đổi, buôn bán với các quốc gia dồi dào lương thực ở phương đông như Ai Cập, Lưỡng Hà đây cũng là những thị trường tiêu thụ rộng lớn của họ. 3. So sánh nền văn minh phương đông cổ đại và phương tây cổ đại về chính trị – xã hội Cũng giống như về kinh tế, về chính trị – xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây có những nét giống và khác nhau nhất định. 3. Giống nhau Do cùng trải qua xã hội nguyên thuỷ trước khi hình thành các quốc gia cổ đại của mình nên giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có những nét giống nhau. Cơ sở của việc hình thành nhà nước là sự phân chia giai cấp và sự tư hữu về tư liệu sản xuất nên xã hội cổ đại phương đông và phương tây đều chia làm 2 tầng lớp là tầng lớp thống trị bao gồm tăng lữ, quý tộc ở phương đông và chủ nô ở phương tây, tầng lớp bị trị là những nông dân công xã, dân tự do và nô lệ. chưa có sự xuất hiện của công cụ bằng sắt. “Thậm chí người Ai Cập mới chỉ biết đến công cụ bằng đá và gỗ”Lịch sử thế giới cổ trung đại. Trong khi đó các quốc gia cổ đại phương tây bước vào quá trình hình thành nhà nước muộn hơn nhiều theo một số tài liệu thì đó là vào khoảng thế kỉ VIII- VII TCN. Đây cũng là sự khác nhau về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây. Điểm khác nhau tiếp theo về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là các quốc gia cổ đại phương đông tồn tại một cách khá cách biệt với thế giới bên ngoài nên họ tồn tại và phát triển một cách khá độc lập liên tục mà không chịu ảnh hưởng của nền văn minh nào khác từ bên ngoài nếu bị xâm lược thì thường giành lại độc lập sau đó. Trong khi đó chính trị, xã hội của các quốc gia cổ đại phương tây chịu ảnh hưởng khá lớn từ các lực lượng bên ngoài. Họ thường phải chịu những cuộc xâm lược của các bộ tộc khác tiêu biểu là cuộc xâm lược của người Giecmanh cuộc xâm lược này đã làm sụp đổ đế chế La Mã đồng thời cũng chấm dứt lịch sử cổ đại châu Âu mở ra thời kì phong kiến. Về mặt tổ chức nhà nước thì các quốc gia cổ đại phương đông lãnh thổ của họ thường khá rộng lớn và là một nhà nước thống nhất ví dụ như Ai Cập, Trung Quốc, Lưỡng Hà. Lịch sử Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc cũng có một số thời kì bị chia cắt nhưng các vùng chia cắt thường không khác nhau lắm về chính trị, xã hội, hơn nữa thì chúng thường được nhanh chóng thống nhất trở lại. Nhưng ở các quốc gia cổ đại phương tây đặc biệt là ở Hi Lạp cổ đại, nhà nước của họ tồn tại dưới hình thức thành bang tức là trên lãnh thổ đó tồn tại nhiều tiểu quốc nhỏ với chế độ tổ chức nhà nước khác nhau giữa các thành bang không có sự giống nhau ví dụ thành bang Aten là thành bang có hình thức hội đồng 500 và hội đồng công dân đứng đầu là 10 nhà chiến lược kiệt xuất được bầu chọn, ở Xpác cũng có hội đồng nhân dân nhưng chủ chốt lại là ở 2 vua và 5 quan giám sát. Ở Rôma thời kì đế chế tuy lãnh thổ mở rộng nhưng về bản chất vẫn không có sự quản lý chặt chẽ thành một khối như ở các quốc gia cổ đại phương đông. Sự khác nhau về xã hội Theo quy luật khách quan của lịch sử thì tiếp theo xã hội cổ đại sẽ là xã hội chiếm nô nhưng do một số nguyên nhân về điều kiện tự nhiên và xã hội nên ở phương đông tồn tại một cách dai dẳng chế độ công xã nông thôn 1 hình thức tổ chức xã hội mà trong đó duy trì nền kinh tế tự nhiên và nhiều tàn dư của công xã nguyên thuỷ. Vì vậy nên xã hội chiếm nô ở phương đông không phát triển đến mức thành thục, điển hình như ở các quốc gia phương tây nơi số lượng nô lệ đông gấp hàng chục lần chủ nô và bình dân. Điều khác nhau tiếp theo giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây là về lực lượng chính lao động để làm ra của cải vật chất. Ở các quốc gia phương tây với nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, lực lượng chính làm ra của cải vật chất là những người nô lệ, một thứ “công cụ biết nói”, còn ở các quốc gia cổ đại phương đông với nền kinh tế nông nghiệp phát triển thì vai trò này thuộc về những nông dân công xã. Lực lượng lao động chính khác nhau cũng cho thấy sự khác nhau về bản chất xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia cổ đại phương tây. Do sự khác biệt trong lực lượng sản xuất chính giữa xã hội cổ đại phương đông và xã hội cổ đại phương tây nên mâu thuẫn xã hội giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng khác nhau. Ở xã hội cổ đại phương đông dó là mâu thuẫn giữa 2 giai tầng chính là giai cấp thống trị vua, quan, quý tộc và giai cấp bị trị nông dân công xã, nô và thợ thủ công. Ở các quốc gia cổ đại phương tây thì có vẻ phức tạp hơn vì ngoài 2 giai cấp đối kháng là chủ nô và nô lệ thì lại có thêm một tầng lớp không bóc lột ai nhưng cũng không bị ai bóc lột, họ là những người dân tự do nghèo, Mác đã gọi họ là tầng lớp “vô sản ăn bám” họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội mà không cần phải lao động gì. Đó cũng là sự khác biệt giữa các quốc gia cổ đại phương đông và các quốc gia đại phương tây. Trong cơ cấu xã hội của các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây cũng có chủ chủ nô ở phương tây. Do ở phương đông nền kinh tế nông nghiệp tự túc, tự cấp phát trỉển còn ở phương tây có nền kinh tế hàng hoá, công thương nghiệp phát triển nên yêu cầu về chính trị, xã hội khác nhau. Ở phương đông với nền kinh tế nông nghiệp thì thuỷ lợi là vấn đề hàng đầu, nhưng trị thuỷ phải có sự góp sức của nhiều người vì thế chế độ tập quyền chuyên chế giúp vua có khả năng trong điều hành các công việc chung dễ dàng hơn. Ngoài ra các vị vua phương đông thường mượn thần quyền để tăng uy tín của mình. Trái lại ở phương tây họ hình thành các quốc gia cổ đại muộn hơn nên có thể tiếp thu thành tựu phương đông. Trong các quốc gia phương đông cổ đại Lưỡng Hà là nước dân chủ hơn cả cộng thêm với việc thương nghiệp ở đây phát triển nên theo tôi các quốc gia phương tây đã học tập và hoàn thiện chế độ ở Lưỡng Hà và lập ra các nhà nước dân chủ chủ nô nhằm hạn chế sự chuyên quyền của vua đồng thời tạo tính dân chủ trong xã hội. Hơn nữa nền kinh tế công thương nghiệp của họ không cần có một vị vua chuyên quyền để cai trị, nền kinh tế công thương coi trọng sự công bằng hơn nữa họ muốn không chỉ có địa vị kinh tế mà còn có địa vị xã hội nên đó cũng có thể là lý do hình thành nhà nước dân chủ chủ nô ở các quốc gia cổ đạu phương tây. Nguyên nhân nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây phát triển một cách thuần thục và điển hình trong khi ở các quốc gia phương đông thì không do ở phương tây, kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ lực lượng dân tự do không đáp ứng kịp từ đó nảy sinh nhu cầu cần một lực lượng chính chuyên môn hoá sản xuất, phục vụ cho nhu cầu công thương nghiệp hơn nữa giữa các quốc gia cổ đại phương tây thường sảy ra chiến tranh để cướp đoạt nô lệ, của cải vì thế số lượng bình dân giảm nhưng số lượng nô lệ lại tăng vì thế bóc lột bình dân như ở các nước phương đông không không còn phù hợp. Vì thế theo em ban đầu nô lệ ở phương tây cũng mang tính gia trưởng như ở phương đông nhưng sau đó do nhu cầu phát triển kinh tế công thương nghiệp nên xã hội chiếm nô ở đây ngày càng phát triển tới mức thành thục và điển hình. Nguyên nhân của sự chênh lệch về thời gian hình thành giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khí hậu phù hợp, đất phù sa màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợp nhất thành các liên minh bộ lạc lớn rồi từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thế ngay cả khi loài người còn đang ở thời kì đá – đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưa xuất hiện thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước cổ đại. Trái lại, ở phương tây đất canh tác không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp để canh tác nông nghiệp vì thế chỉ khi công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I TCN thì các quốc gia cổ đại phương tây mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao các quốc gia phương tây phát triển công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp ở thời đồ sắt lý do rất đơn giản vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hình thức kinh tế giúp con người tồn tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp phát triển kể cả các quốc gia phương tây vì nông nghiệp là cơ sở để duy trì sự tồn tại của xã hội Nguyên nhân sự khác nhau về giai cấp đối kháng giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tâylý do sự khác nhau đó đến từ thể chế chính trị, xã hội. Ở các quốc gia phương đông cổ đại hình thức chính trị xã hội chủ yếu của họ là hình thức tập quyền chuyên chế vì thế mâu thuẫn giai cấp chủ yếu sảy ra giữa nông dân công xã và quý tộc, quan lại trong khi đó ở các quốc gia cổ đại phương tây nền dân chủ chủ nô phát triển mâu thuẫn chủ yếu là giữa chủ nô và nô lệ nhưng trong xã hội cổ đại phương tây lại có sự phức tạp hơn phương đông ở chỗ ngoài hai giai cấp đối kháng chủ yếu là chủ nô và nô lệ còn xuất hiện giai cấp bình dân họ không bị bóc lột như nô lệ nhưng cũng không bóc lột trực tiếp đối với nô lệ họ sống nhờ vào phúc lợi xã hội giai cấp vô sản ăn bám. Giai cấp này hình thành trên cơ sở sự phát triển của chế độ chiếm nô khi của cải trong xã hội đã tích luỹ 1 lượng của cải đủ nuôi sống cả xã hội. Họ sống nhờ vào chính quyền chiếm nô nên có quan hệ lệ giai đoạn lịch sử đông Ktruc cổ của các nước phương Đông có đặc điểm là thường gắn với tôn giáo, người pđ rất trọng tâm linh nên họ thường tập trung của cải, sức lực để xây dựng các đền tháp đồ sộ để mời các vị thần về, cầu mong các thần phù hộ. Do đó, ở Phương Đông nhiều công trình mang tính chất tôn giáo đã ra đời và dựng lên ở hầu khắp các nước một tấm thảm nghệ thuật vô cùng đa dạng và huyền bí. Từ những tác phẩm nhỏ bé và tinh xảo tới những công trình khổng lồ , vừa mang nét thiêng liêng phồn thịnh của nền mỹ thuật Ấn Độ lại có những tác phẩm mang vẻ đẹp tinh vi óng chuốt của phong cách siêu quán Trung Hoa. Có thể nói, trong quá trình phát triển văn minh, người Phương Đông nói chung và người Ai Cập cổ đại nói riêng đã tạo ra những di sản văn hóa cực kỳ quý báu và đồ sộ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kiến trúc Ai Cập cổ đại đã đạt tới một trình độ rất cao. Kiến trúc Ai Cập cổ đại chủ yếu là các đền đài tôn giáo với các cấu trúc khổng lồ và sự thần bí của không gian, được xác định bởi các bờ tường dày và dốc với ít lỗ mở. Các công trình kiến trúc tiêu biểu là cung điện, đền miếu và đặc biệt là Kim tự tháp. Nói đến Ai Cập người ta nghĩ ngay đến những Kim tự tháp đứng sừng sững giữa sa mạc mênh mông. Chúng như những tấm bia khổng lồ ghi lại một thời đại huy hoàng trong lịch sử kiến trúc nhân loại, thể hiện được sức sáng tạo kỳ diệu của những người xây dựng nên nó. Bằng bàn tay và khối óc của mình, người dân Ai Cập cổ đại đã để lại cho nền văn minh nhân loại những giá trị nghệ thuật kiến trúc vô giá. Bên cạnh những giá trị về mặt kiến trúc, Nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cũng có nhiều thành tựu lớn, thành tựu đó biểu hiện ở hai mặt tượng và phù điêu. độc đáo nhất trong lĩnh vực điêu khắc của Ai Cập cổ đại là tượng Xphanh khổng lồ gọi là nhân sư, là những bức tượng mình sư tử, đầu người hoặc dê. Đây là một quái vật huyền thoại của người Ai Cập, thể hiện sức sáng tạo kỳ diệu của người dân Ai cập cổ xưa. Ngoài những công trình lớn nêu trên, mỹ thuật Ai Cập Cổ đại còn đạt tới trình độ hoàn hảo, trong các tranh tượng vừa và nhỏ, theo phong cách tả thực rất tinh vi và đặc sắc trong đó kết hợp chặt chẽ giữa điêu khắc và hội họa. Các tác phẩm tiêu biểu như Tượng đá vôi màu ; Viên thư lại ngồi ,tượng gỗ Cheikh e Beled là tượng gỗ vào loai đẹp và cổ nhất Ai Cập còn lưu lại đến ngày nay. Phù điêu đá vôi Tigrane Pacha. tượng đồng Reine Karomama. Đặc biệt bức phù điêu tuyệt đẹp trên đá tô màu Seti I và Nữ Thần Hathor Nằm ở khu vực Tây Á, Lưỡng Hà cổ đại thuộc vùng đất nằm trong lãnh thổ hai nước Irắc vàCoóet đai Lưỡng Hà được hai con sông Tigre và Euphrate bồi đắp phù sa màu mỡ. Ở đây đã có một nền nghệ thuật phát triển rất cao, nhưng do điều kiện địa lý, họ đã phải dùng nhiều vật liệu không bền như gạch không nung trong kiến trúc, nên nhiều công trình bị động đất và thời gian tàn phá. Thời cổ đại, các công trình kiến trúc chủ yếu là tháp, cung điện, đền miếu, thành, vườn hoa,. Nổi lên trên quần thể kiến trúc thành, cung điện là vườn treo Babilonàn bộ vườn treo thực chất là một vườn hoa được tạo dựng trên không, được xây dựng vào cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VI TCN. Đây là công trình kiến trúc, là chứng tích cho một huyền thoại về tình yêu cuồng nhiệt của những vị vua, hoàng hậu, và công chúa xinh đẹp xứ Mađi. Nghệ thuật điêu khắc gồm tượng và phù điêu. Những tác phẩm tương đối tiêu biểu là “ bia diều hâu” 2800 Tr được tạc để kỷ niệm chiến thắng của Vua thành Lagash , bia Naram Sin khoảng 2700 Tr , Bảo tàng Louwre bia này làm bằng sa thạch đỏ cao 2 mét nay còn nguyên vẹn , vốn là để kỉ niệm chiến thắng của vua Naram Sin. các tượng Vua Goudea 2400Tr là đỉnh cao của nghệ thuật Sumer và Akkad với phong cách dứt khoát và mạnh mẽ. Ngoài ra ta còn biết tài hoa của các nghệ sỹ qua Con dấu trục , “Cột đá naramxin”, “bia điều luật Hamourabi”, phù
13 Thursday Feb 2014 So sánh nền văn minh phương Đông cổ đại và phương Tây cổ đại. Trong buổi bình minh của lịch sử, các dân tộc phương Đông và phương tây đã sáng tạo nên nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ mà ngày nay chúng ta vẫn đang được thừa hưởng. Những thành tựu rực rỡ của văn minh cổ đại được ghi vào lịch sử nhân loại như những ánh hào quang rực rỡ nhất. những giá trị của văn minh thời kì cổ đại đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh phương đông, phương tây nói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủ mọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của nền văn minh cổ đại được khẳng định và thừa nhận, xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnh hưởng đến thời đại ngày nay. Phần 1. Về điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây và phương Đông cổ đại Điều kiện hình thành nền văn minh phương Đông cổ đại Loài người ra đời cách đây hàng triệu năm, và từ đó loài người đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Nhưng mãi đến cuối thiên kỉ IV TCN, xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã ở Ai Cập, nhà nước bắt đầu ra đời, từ đó loài người mới bắt đầu bước vào thời kì văn minh. Trong thời cổ đại, tức là từ cuối thiên kỉ IV, đầu thiên kỉ III TCN, đến những thế kỉ trước sau CN, ở phương Đông tức là ở châu Á và ở Đông Bắc châu Phi có bốn trung tâm văn minh lớn, đó là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Có một tình hình chung nổi bật là cả bốn trung tâm văn minh này đều nằm trên những vùng chảy qua của những con sông lớn. Đó là sông Nin ở Ai Cập, sông Ơphrat và sông Tigrơ ở Tây Á, sông Ấn Indus và sông Hằng Gange ở Ấn Độ, Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc. Chính nhờ sự bồi đắp của những dòng sông lớn ấy nên đất đai ở những nơi này trở nên màu mỡ, nông nghiệp có điều kiện phát triển trong hoàn cảnh nông cụ còn thô sơ, dẫn đến sự xuất hiện sớm của nhà nước, do đó cư dân ở đây sớm bước vào xã hội văn minh, và hơn thế nữa đã sáng tạo nên những nền văn minh vô cùng rực rỡ. Xã hội có giai cấp và nhà nước đã xuất hiện đầu tiên ở phương Đông, trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Phi và châu Á như sông Nin ở Ai Cập, sông Ơ-phơ-rát và Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà, sông Ấn, sông Hằng ở Ấn Độ, Hoàng Hà ở Trung Quốc Ở đây có những điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi cho đời sống của con người. Những nơi này có nhiều đất canh tác, có mưa đều đặn theo mùa, có khí hậu nóng ẩm trừ Trung Quốc nhưng cũng không lạnh như ngày nay, dân cư sống tập trung khá đông theo từng bộ lạc, trên các thềm đất cao gần sông, dễ trồng vườn, trồng lúa và chăn nuôi. Khoảng 3500 năm đến 2000 năm trước công nguyên, cư dân ở Tây Á, Ai Cập và cư dân ở lưu vực các sông còn lại đã sinh sống trên đồng bằng ở ven các con sông. Họ sống bằng nghê nông là chủ yếu và biết trồng mỗi năm hai vụ. Đồng bằng ven sông đã bù đắp rất nhiều cho con người. Vào mùa mưa hàng năm, nước sông dâng cao, phủ lên các chân ruộng thấp một lớp phù sa màu mỡ và làm cho đất rất mềm, dễ làm với cả những chiếc cày bằng gỗ. Cư dân phương Đông sống bằng nghề nông là chủ yếu nên trước tiên họ phải lo đến công tác thuỷ lợi. Họ đã biết đào các hệ thống kênh, lập hệ thống gầu để múc nước ở chân ruộng thấp và đưa nước lên chân ruộng cao những khi cần. Ngoài ra, họ còn biết đắp đê để ngăn lũ nhờ thế con người có thể thu hoạch lúa ổn định hằng năm. Công việc trị thuỷ khiến moi người gắn bó và ràng buộc với nhau trong tổ chức công xã. Điều kiện hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại Hi Lạp cổ đại Hi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thần biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nước mình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ Trung Quốc, ta gọi là Hi Lạp.
Tiếp nối nền văn minh phương Đông thì ở phương Tây cũng đã hình thành nên khuvực văn minh của mình . Nếu như ở phương Đông , nền văn minh xuất hiện khá sớm thì ở các quốc gia cổ đại phương Tây có sự ra đời muộn hơn. Ở phương Tây ,thời cổ đại chỉ có nền văn minh Hi-La, đến thời trung đại cũng chỉ có một trung tâm văn minh mà chủ yếu là Tây minh Hi-La vô cùng xán lạn , là cơ sở của văn minh châu Âu sau sau khi đế quốc Tây La Mã diệt vong , nền văn minh đó bị lụi tàn , mãi đến thế kỉ VI ,văn minh phương Tây mới bắt đầu được Phục hưng , từ đó mới phát triển mạnhmẽ và liên tục cho đến ngày nay. 1. Thời gian ra đời - Văn minh phương Tây ra đời từ cuối thiên nhiên kỉ III TCN- Mặc dù xuất hiện muộn hơn phương Đông, nhưng cơ sở của nền văn minh phương Tây là Hy Lạp và La Mã vẫn phát triển rực Điều kiện tự nhiên , -Vị trí địa lý Các quốc gia cổ đại phương Tây được hình thành trên các bán đảo Nam Âu ,chủ yếu ở khu vực vùng ven biển địa Trung hải, đây là nơi có điều kiện đất đai khô cằn và tại đây cũng rất khó cho hoạt động canh tác, phát triển nông nghiệp, nhưng khu vực vùng ven biển địa Trung hải thì lại thuận lợi cho quá trình phát triển hải cảng, thương nghiệp. Từ đó hình thành những con đường giao thương trên biển, hải cảng, tàu bè… thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa các nước; đồng thời mang những thành tựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp thế nguyên thiên nhiên Hi Lạp và La Mã đều có nhiều vũng , vịnh tạođiều kiện thuận lợi cho tàu bè đi lại .Với Hi Lạp , quốc gia này có nhiều đồng bằng nhỏ hẹp , đất đai không phì nhiêu nên phù hợp để trồng các loại cây nho , ô liu…Còn ở La Mã thì lại có nhiều đồng bằng rộng lớn thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt , chăn nuôi. Ở Hi Lạp có nhiều khoáng sản lại tương đối dễ khai thác như đồng, vàng, bạc, dất sét trắng còn ở La Mã thì luyện kim sớm phát triển .
so sánh nền văn minh phương đông và phương tây