Các hoạt động tham vấn tâm lý (TVTL) xuất hiện và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhất là ở những đô thị đông dân. Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình tham vấn khác nhau, trong đó trợ giúp tâm lý học đường đang trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời. Bất kỳ là vấn đề nào: bỡ ngỡ với trường mới, hay khó khăn trong học tập, hay bối rối trước những vấn đề liên quan mối quan hệ bạn bè…, các Brendoners đều có thể chia sẻ và nhận được tư vấn tận tình từ các Chuyên gia Tâm lý "luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu" trong nghìn lẻ một lĩnh vực Tâm lý học đường. Luận Văn Thực trạng bạo lực thể chất ở Việt Nam hiện nay. Danh mục: Khoa học xã hội. loại bạo lực 2.1 Phân loại theo hình thức: Gồm 5 loại:+ Bạo lực thể chất .+ Bạo lực tinh thần.+ Bạo lực tình dục.+ Bạo lực kinh tế.+ Bạo lực về mặt xã hội.2.2 Phân loại Nguyên tắc này có ý nghĩa liên quan đến sự tự quyết định tham gia vào quá trình tư vấn. Mặt khác, nó gắn liền với kết quả mong muốn đạt được của tư vấn. Nếu HS không đồng ý, không tự nguyện, không có nhu cầu tham gia vào quá trình tư vấn thì dù nhà tư vấn có cố Mô hình can thiệp bằng Tâm lý học đường đáng suy ngẫm. Trường Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng mô hình phát hiện và can thiệp đối với HS có khó khăn học đường cũng như các vấn đề SKTT. Mô hình này được TS Nguyễn Tùng Lâm chia sẻ như sau: Bước 1: Phát hiện: Những buổi Xuất phát từ lý luận và thực tế trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh Trung học cơ sở" 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhu cầu tham vấn tâm lý (NCTVTL) HĐ của HS THCS từ đó tổ chức K2OC. Tư vấn tâm lý học đường là một trong những hình thức hỗ trợ và chăm sóc sức khỏe tinh thần cho các em học sinh phổ biến trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển. Tại Việt Nam khi sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gia tăng cùng với áp lực học tập và nhu cầu thực tiễn của học sinh. Tư vấn tâm lý học đường dần trở thành một trong những hình thức phổ cập trong các trường học đặc biệt là các trường THCS, THPT. Mặc dù được phổ cập tuy nhiên nhiều học sinh, phụ huynh còn cảm thấy lạ lẫm với hình thức tham vấn tâm lý học đường này. Vậy Tư vấn tâm lý học đường là gì? Vai trò của tư vấn tâm lý học đường đối với học sinh ra sao? Những hiệu quả mà tư vấn tâm lý học đường có thể mang lại cho học sinh và phụ huynh. Hãy cùng ThanhBinhPsy đi tìm câu trả lời trong bài viết dưới đây nhé. Tư vấn tâm lý học đường School Psychology hay còn được gọi là tham vấn tâm lý học đường TVTLHĐ là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng trong môi trường học đường. Tư vấn học đường là một chuyên ngành tâm lý ứng dụng trong môi trường học đường Tư vấn tâm lý học đường bao gồm các hoạt động tư vấn, sẻ chia, hỗ trợ tâm lý cũng như các vấn đề liên quan đến tâm lý, học tập, các mối quan hệ bạn bè, gia đình… cho học sinh. Từ đó, giúp cho các em lấy lại cân bằng về mặt cảm xúc, tự định hướng cho tương lai và đồng thời giúp phát hiện sớm hoặc can thiệp những sai lệch trong cảm xúc, hành vi hay nhận thức của các em trong cuộc sống nói chung và nhà trường nói riêng. Tư vấn tâm lý học đường được đánh giá là một trong những lĩnh vực rất quan trọng và có vai trò to lớn trong môi trường học đường. Tuy nhiên trên thực tế rất nhiều phụ huynh, học sinh chưa biết đến hình thức này hoặc còn mơ hồ về nó. Khiến cho tình trạng học sinh gặp các vấn đề về tâm lý học đường vẫn tiếp tục gia tăng nhưng lại có rất ít tiến triển dù từ cuối năm 2017 Tư vấn tâm lý học đường đã được phổ cập tại mọi trường học trên cả nước. [maxbutton id=”3″ text=”tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh trung học” ] Vì sao tư vấn tâm lý học đường trở nên quan trọng Không phải ngẫu nhiên mà tư vấn tâm lý học đường trở thành một lĩnh vực được nhiều người quan tâm và được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đưa hẳn vào trường học. Một thực tế mà rất nhiều phụ huynh và cả thầy cô giáo quên mất rằng các em học sinh ở độ tuổi từ 12, 13 – 17, 18 tuổi là một giai đoạn rất khó khăn. Trong giai đoạn này các em phải tiếp nhận với sự thay đổi lớn về mặt cơ thể và cả trong suy nghĩ và tính cách. Đối tượng của tham vấn tâm lý học đường là học sinh vị thành niên từ độ tuổi 12-18 tuổi độ tuổi có nhiều sự thay đổi về mặt tâm, sinh lý Đây là giai đoạn các em chưa thành người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con. Những nhận thức và cảm xúc của các em trong giai đoạn này chưa thật sự chín chắn và có thể có sai lệch nếu thiếu định hướng và sự theo dõi sát sao từ phía gia đình, nhà trường. Minh chứng cho điều này, các bậc phụ huynh có thể thấy rõ sự thay đổi của con mình đặc biệt là trong giai đoạn từ cấp 1 và cấp 2. Cấp 1 bé rất ngoan, mẹ bảo gì cũng nghe, đi học có chuyện gì cũng kể với mẹ. Nhưng khi các em qua cấp 2 ở khoảng lớp 7,8 hay sớm hơn là lớp 6 các em bắt đầu phân định ranh giới của riêng mình có vài đồ vật ba mẹ không được đụng vào, các em đi chơi nhiều hơn với bạn, ít nói chuyện và tâm sự với ba mẹ,.. thích được xem như người lớn và đôi khi là hành xử như người lớn…. Một yếu tố khác nữa đó chính là trong giai đoạn này các em rất nhạy cảm với việc bị ba mẹ la mắng hay trách móc đặc biệt là trước sự xuất hiện của người thứ 3, các em dễ nổi nóng, bốc đồng và thiếu suy nghĩ trong lời nói và hành động… Khó khăn của nhiều học sinh cần tư vấn tâm lý học đường đến từ mâu thuẫn với gia đình Đây là một trong rất ít những biểu hiện tâm sinh lý của các em trong giai đoạn này. Ngoài ra các em còn phải đối mặt với nhiều áp lực khác ngoài những thay đổi của bản thân đó chính là áp lực từ gia đình kỳ vọng của ba mẹ, mong muốn của ba mẹ.., nhà trường thành tích học tập, quan hệ với thầy cô, bạn bè.. và cả xã hội giàu nghèo, game, mạng xã hội… Các em trong độ tuổi này cũng rất thích thử thách bản thân và thích khám phá mọi thứ. Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng đa số những người đàn ông nghiện thuốc lá vì học đã học hút nó từ lúc trung học bằng cách này hoặc cách khác chứng tỏ bản thân, hút cho ngầu... Trong một khảo sát gần đây về giới tính ở độ tuổi học đường cho thấy có đến hơn 20% những em tự nhận mình là giới tính thứ ba là nam hoặc nữ bình thường. Vì sở thích thấy những bạn Les cắt tóc cool ngầu, ăn mặc cá tính mà các em bắt chước và tự cho mình là les nhưng về mặt sinh lý lại không phải như vậy. Là quốc gia có văn hóa khá bảo thủ và truyền thống, hầu hết các em học sinh đều được đặt trong kỳ vọng của ba mẹ là phải thành đạt, học hành thành tài. Tuy nhiên, khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời vào đại học nhiều em không biết bản thân thích gì? không biết nên chọn ngành gì? hay ngành mà mình chọn học về cái gì?… Chọn ngành học, định hướng tương lai chưa bao giờ là điều dễ dàng. Nhưng các em học sinh không biết phải làm như thế nào Thực tế cho thấy lượng sinh viên sau khi ra trường thất nghiệp hoặc không làm đúng ngành nghề vì bản thân họ không yêu ngành mà họ theo học. Có thể chính việc thiếu định hướng từ đầu là một phần nguyên nhân tạo nên một bộ phận người trẻ thất bại, chán nản và thiếu phương hướng như hiện tại. Thực trạng tư vấn tâm lý học đường tại Việt Nam Trước khi đi cụ thể vào thực trạng tình hình tư vấn tâm lý học đường tại Việt Nam hiện nay. ThanhBinhPsy muốn bạn tham khảo vài con số dưới đây Khảo sát 2000 học sinh, sinh viên từ 15-18 tuổi tại TPHCM Hơn 70% cảm thấy bản thân gặp khó khăn trong một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Hơn 50% cảm thấy mình không đươc thấu hiểu Khoảng 90% tự tử vì cảm thấy bố mẹ không hiểu mình Gần 85% cho rằng họ nói chuyện với bạn bè nhiều hơn với gia đình 75% học sinh cấp 3 cảm thấy hoang mang khi lựa chọn ngành học cho đại học Hơn 30% sinh viên đại học năm 1 cảm thấy chán nản vì chọn nhầm ngành, con số này tăng lên ở mức 50% ở năm thứ 2 và thứ 3. Hơn 90% trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật vì cho rằng gia đình thiếu quan tâm và bản thân bị mất phương hướng Tư vấn tâm lý học đường có cũng như không “Tư vấn tâm lý học đường có cũng như không” là câu nói gây quan ngại lớn nhất mà nhà trường và Bộ GD&ĐT được nghe trong vài năm trở lại đây. Trên thực tế, mặc dù được phổ cập từ cuối năm 2017 nhưng hầu như các trường học đều lập Phòng tư vấn tâm lý học đường lên để lấy lệ. Không có chuyên gia tham vấn tâm lý, không tuyên truyền đến các em học sinh và phụ huynh nhiều trường còn không biết có sự tồn tại của căn phòng này trong trường. Lí do được ban giám hiệu các trường học đưa ra khi được đặt câu hỏi “tại sao phòng tư vấn tâm lý học đường có cũng như không” là học sinh không chịu tới. Tuy nhiên, nhà trường quên mất việc phải giúp các em hiểu được ý nghĩa của phòng tư vấn tâm lý học đường này là gì. Một phòng tư vấn tâm lý học đường của một trường THPT Đó không phải là một căn phòng xấu, các em học sinh tới đó không có vấn đề thần kinh hay những khó khăn của các em sẽ được lắng nghe, sẻ chia và hỗ trợ mà vẫn đảm bảo tính bảo mật và khách quan. Nhiều trường học có phòng tham vấn tâm lý học đường quy mô nhưng lại để cho cô giáo dạy giáo dục công dân làm công việc của nhà tham vấn. Tính bảo mật của câu chuyện không cao hoặc không có. Chính những điều này đã vô tình đẩy các em học sinh ra xa phòng tư vấn tâm lý học đường vì không thích đến hoặc không dám đến. Xem thêm Bạo lực học đường là gì? Hệ lụy nguy hiểm khi ba mẹ kiểm soát con quá mức Nhà trường chưa đánh giá cao vai trò của tư vấn tâm lý học đường Tư vấn tâm lý nói chung và tư vấn tâm lý học đường là những ứng dụng còn mới mẻ với đai đa số bộ phận người Việt. Mặc dù được nghiên cứu từ hàng trăm năm và phát triển ở rất nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển trên thế giới cũng như trong khu vực. Tuy nhiên, tâm lý học và ứng dụng tâm lý học tại Việt Nam lại chưa thực sự phát triển. Đa số đến từ lối suy nghĩ cổ điển của người Việt ta ngại chia sẻ, ngại nói về bản thân…. Vì vậy, không chỉ tư vấn tâm lý học đường mà tư vấn tâm lý mặc dù đã xuất hiện ở nước ta vài thập kỷ nay vẫn chưa thực sự phát triển và được biết đến rộng rãi. Nhiều nhà trường chưa thực sự coi trọng vấn đề tham vấn học đường Ở các thầy cô, nhà trường thì việc dạy văn hóa và kiến thức được cho là quan trọng nhất. Các yếu tố khác liên quan đến tâm sinh lý học sinh chủ yếu được giáo viên chủ nhiệm nắm bắt một cách sơ sài và thiếu chuyên nghiệp. Thêm nữa, ngành tâm lý học đường tại Việt Nam cũng chưa thực sự phát triển hiện nay chưa có bất cứ một trường đại học nào đào tạo chuyên sâu về tư vấn học đường. Đa số những nhà tâm lý học đường đều đi du học từ nước ngoài về hoặc được đào tạo tâm lý học chính quy. Vì vậy, việc cán bộ, giáo viên nhà trường chưa thực sự nhận thấy tầm quan trọng cũng như vai trò của tư vấn tâm lý học đường đối với học sinh của mình cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu. [maxbutton id=”1″ text=”tư vấn tâm lý trẻ em trực tuyến” ] Vai trò của tư vấn tâm lý học đường Tư vấn tâm lý học đường cho học sinh Các nhà tư vấn tâm lý học đường sẽ tiếp nhận câu chuyện của các em dựa trên các nguyên tắc nghề nghiệp như Lắng nghe một cách có thiện chí, không bài xích và thiếu tôn trọng; Bảo mật mọi thông tin; Chia sẻ, thấu hiểu và hỗ trợ bằng các phương pháp tham vấn hoặc trị liệu phù hợp để các em vượt qua vấn đề của mình. Hãy mạnh dạn chia sẻ vì các em sẽ được lắng nghe Nhà tâm lý sẽ lắng nghe các vấn đề của các em một cách chăm chú và thiện chí. Nhà tâm lý sẽ không bao giờ đánh giá các em mà luôn tôn trọng quan điểm cá nhân của các em. Đến phòng tham vấn học đường mọi bí mật sẽ đóng chặt sau cánh cửa Là một nhà tâm lý nói chung và tâm lý học đường nói riêng đều được học qua nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. Nhà tâm lý sẽ đảm bảo bí mật hoàn toàn thông tin của các em mà không bên thứ ba nào được biết. Trừ khi những vấn đề của các em vượt ra ngoài khả năng tự định hướng và đánh giá của bản thân mà cần sự can thiệp và hỗ trợ từ thầy cô, gia đình, bạn bè. Hoặc nghiêm trọng hơn là các vấn đề có liên quan đến tính mạng và pháp luật. Nhà tâm lý sẽ giúp đỡ và hỗ trợ các em học sinh trong việc lấy lại cân bằng cũng như định hướng hành vi, cảm xúc và cả tương lai của bản thân Sẻ chia thấu hiểu và định hướng nhưng không áp đặt Một trong những điều khiến tất cả các em học sinh khiếp sợ đó chính là “Bị Áp Đặt” Con phải làm như thế này… Em phải làm như thế này…Trò phải làm như thế này…. Nhà tâm lý sẽ sẻ chia câu chuyện của các em, sẽ dùng kiến thức, kỹ năng và xúc cảm để hiểu những suy nghĩ và hành động của các em một cách khách quan. Nhà tâm lý cũng sẽ giúp các em nhìn rõ vấn đề mà mình đang gặp phải là gì? các yếu tố liên quan đến nó? Các giải pháp mà các em có thể có là gì? ưu, nhược điểm của từng lựa chọn… Để từ đó chính các em có sự lựa chọn cho riêng mình. Chính các em sẽ là người đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Một số trường hợp khác Trường hợp vấn đề của các em liên quan trực tiếp đến bên thứ ba là cha mẹ, thầy cô hay bạn bè thì nhà tâm lý sẽ dựa vào mức độ của vấn đề, mong muốn của các em để đưa ra hình thức tư vấn phù hợp tư vấn nhóm, thảo luận… Trước đó, nhà tâm lý sẽ làm việc với bên thứ 3 trước để giúp cho bên thứ ba hiểu hết các vấn đề mà các em đang gặp phải đồng thời lắng nghe những phản hồi từ bên thứ ba về các vấn đề mà các em đã đề cập sau đó mới tiến hành tổ chức tư vấn hoặc thảo luận nhóm. Tại sao phụ huynh và thầy cô giáo cũng cần tư vấn học đường Có một thực tế là đa số các bậc làm cha mẹ chỉ biết cách nuôi dạy và tạo điều kiện cho con cái thông qua con đường tài chính mà ít hoặc không biết cách nói chuyện hay định hướng phát triển cho con một cách đúng mực. Khi các bậc phụ huynh cảm thấy xa cách với chính con của mình, gặp khó khăn trong việc nói chuyện với con nói chuyện là cãi vã, con không nói chuyện với ba mẹ… thì các bậc phụ huynh cũng có thể tìm gặp nhà tâm lý học đường để được hỗ trợ. Bên cạnh tư vấn tâm lý cá nhân, nhà tâm lý còn giúp đỡ các em học sinh trong trị liệu nhóm và thảo luận với gia đình Thông qua việc được hỗ trợ phụ huynh sẽ biết cách để có thể nói chuyện với con cái hơn, có định hướng cho các vấn đề của con tốt hơn và tìm được tiếng nói chung với con cái của mình. Từ đó, dễ dàng theo sát tiến trình phát triển tâm, sinh lý của con. Giúp các em phát triển hoàn thiện và tốt hơn. Đối với các thầy cô giáo, chuyên môn của các cô thầy là dạy kiến thức cho học sinh. Vì vậy việc hiểu và nhận biết các vấn đề của học sinh là điều mà không phải thầy cô nào cũng có thể làm được. Đôi khi những hành xử và thái độ của các thầy cô khiến cho các em hiểu lầm hoặc cảm thấy bị tổn thương mà thầy cô không hề hay biết. Hay những áp lực khi phải lên lớp một ngày hàng chục tiết cùng với hàng trăm học trò khiến thầy cô cảm thấy mệt mỏi. Phòng tư vấn tâm lý học đường sẽ là nơi giúp thầy cô cảm thấy thoải mái và cân bằng hơn khi được giải tỏa các vấn đề của mình và có định hướng tốt hơn trong giảng dạy cũng như quan tâm học trò của mình. Xem thêm Dịch vụ tham vấn tâm lý online Dịch vụ tư vấn tâm lý tại nhà Nội dung của tư vấn tâm lý học đường Nội dung tư vấn đối với học sinh tiểu học Đối với học sinh Xây dựng chương trình đào tạo đa dạng, với mục tiêu nâng cao năng lực xã hội cho các em. Việc này sẽ giúp tác động tích cực đến thái độ, tư duy và hành vi trong tương lai. Đối với phụ huynh Xây dựng chương trình đào tạo giúp hiểu rõ hơn về những vấn đề tâm lý của trẻ, qua đó tìm ra giải pháp phù hợp. Đối với giáo viên Xây dựng phương pháp làm việc, giảng dạy trẻ sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Chương trình giúp giáo viên nắm vững các kỹ năng và kiến thức cần thiết để hỗ trợ trẻ phát triển toàn diện. Tư vấn đối với học sinh tiểu học cần bám sát chương trình giảng dạy, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi Nội dung tư vấn đối với học sinh trung học Đối với học sinh Tập trung vào các kỹ năng giao tiếp, ứng xử và thích nghi môi trường học đường, qua đó giúp trẻ phát triển toàn diện và tự tin hơn. Đối với phụ huynh Hỗ trợ con chọn trường, chọn nghề và thích nghi với môi trường học tập. Đồng thời, tạo cơ hội cho con tiếp cận các kiến thức thực tiễn để khơi dậy đam mê và tài năng. Đối với giáo viên Tập trung hướng dẫn trẻ xác định khả năng và sở thích của mình. Nội dung tư vấn đối với học sinh phổ thông Đối với học sinh Bên cạnh việc tập trung vào kỹ năng học tập, cần hướng dẫn trẻ phương pháp học tập hướng đến tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề. Đối với phụ huynh Hỗ trợ con chọn trường và nghề phù hợp, xây dựng kế hoạch học tập và rèn luyện kỹ năng mềm. Đối với giáo viên Định hướng nghề nghiệp tương lai cho trẻ, đi kèm với trách nhiệm khác như phát triển kỹ năng thực hành, giao tiếp, kỹ năng mềm, phát triển thể chất… Tư vấn đối với học sinh phổ thông liên quan nhiều đến nghề nghiệp, các kỹ năng học tập, tư duy, giao tiếp, kỹ năng mềm Tư vấn tâm lý học đường ở đâu tại TPHCM? Hiện nay, khi các nhà trường chưa thể đảm bảo được nhân lực và giá trị của tư vấn tâm lý học đường. Các em học sinh vẫn chưa thể tìm được nơi để có thể sẻ chia và tìm kiếm sự thấu cảm và định hướng đúng đắn trong hành vi, suy nghĩ hay quan trọng hơn là chọn ngành học cho tương lai. Phụ huynh lo lắng trước các tình trạng của con trẻ nhưng không biết nên đi đâu? ThanhBinhPsy cung cấp dịch vụ tham vấn/tư vấn tâm lý học đường uy tín, bảo mật và hiệu quả tại TPHCM Giải pháp tốt nhất mà các em hoặc phụ huynh có đó chính là tìm đến các trung tâm hoặc các nhà tâm lý để được hỗ trợ. Ở TPHCM có rất nhiều trung tâm tư vấn và tham vấn trị liệu tâm lý mà các bậc phụ huynh có thể lựa chọn như Rồng Việt, Sunnycare.. hoặc ThanhBinhPsy. Mặc dù là một đơn vị còn non trẻ tuy nhiên ThanhBinhPsy hội tụ đội ngũ các nhà tâm lý có tri thức, được đào tạo bài bản về tâm lý học và có kinh nghiệm cũng như kỹ năng phong phú trong tham vấn và tư vấn tâm lý học đường cũng như các lĩnh vực tâm lý khác. Tại ThanhBinhPsy các em có thể được lắng nghe và chia sẻ, thấu cảm và hỗ trợ trong việc kiểm soát cảm xúc hay được định hướng để có thể tự xử lý các vấn đề của mình hoặc tự đưa ra những quyết định quan trọng khác. Bên cạnh tư vấn tâm lý học đường dạng cá nhân, ThanhBinhPsy còn giúp cho cha mẹ và các em kết nối với nhau thông qua những cuộc thảo luận hay tư vấn nhóm, gia đình nhằm hỗ trợ tối đa cho các em cũng như các bậc phụ huynh vượt qua giai đoạn “khủng hoảng” vị thành niên này. Để biết thêm về dịch vụ cũng như giá dịch vụ tư vấn tâm lý học đường của ThanhBinhPsy quý khách vui lòng truy cập tại Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương là một bài văn tường thuật hoặc phân tích về một chủ đề liên quan đến tâm lý học đại cương. Nó là một phần trong quá trình học tập của sinh viên trong lĩnh vực tâm lý học và được yêu cầu hoàn thành trong các khóa học tâm lý học đại cương. Trong tiểu luận, sinh viên sẽ phải tìm hiểu và nghiên cứu về một chủ đề cụ thể trong tâm lý học đại cương, ví dụ như bản chất con người, nhận thức, cảm xúc, hành vi, giấc mơ, tư duy và những hiện tượng tâm lý học khác. Sau đó, họ sẽ phải viết một bài văn trình bày các kết quả của nghiên cứu và phân tích các thông tin thu thập được để trả lời câu hỏi được đưa ra hoặc giải quyết vấn đề được đề xuất. Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương giúp sinh viên hiểu sâu hơn về các khía cạnh của tâm lý học đại cương và phát triển kỹ năng nghiên cứu, phân tích, viết và trình bày. Nó cũng là một cách để đánh giá kiến thức và khả năng của sinh viên trong môn học này. Hiểu được nỗi khổ của các bạn sinh viên, học viên. Luận Văn Panda có dịch vụ nhận viết thuê tiểu luận hỗ trợ cho các bạn học viên, với kinh nghiệm làm bài tiểu luận lâu năm của đội ngũ chúng tôi, hứa hẹn sẽ giúp bạn có một bài tiểu luận thật hoàn hảo, để hiểu rõ hơn về dịch vụ hãy kết bạn mình qua zalo/telegram để được tư vấn miễn phí. Phương pháp làm tiểu luận môn tâm lý học đại cương có thể được thực hiện theo các bước sau Chọn đề tài Đầu tiên, sinh viên cần chọn một đề tài cụ thể và phù hợp với môn học tâm lý học đại cương. Đề tài nên được lựa chọn dựa trên sở thích và khả năng của sinh viên. Nghiên cứu và thu thập thông tin Sau khi đã chọn đề tài, sinh viên cần tiến hành nghiên cứu và thu thập thông tin về chủ đề đó từ các nguồn tài liệu đáng tin cậy, bao gồm sách, bài báo, tạp chí, tài liệu trực tuyến, và các nguồn khác. Đánh giá và phân tích thông tin Tiếp theo, sinh viên cần đánh giá và phân tích các thông tin đã thu thập được từ các nguồn trên. Nếu cần thiết, sinh viên cần thực hiện các bài kiểm tra để xác nhận tính đúng đắn và tin cậy của các thông tin đó. Lập kế hoạch và viết bản nháp Sau khi đã thu thập đủ thông tin, sinh viên cần lập kế hoạch cho bài viết và viết bản nháp. Bản nháp này nên được tổ chức và trình bày một cách rõ ràng và có tính logic. Chỉnh sửa và sửa lại Sau khi hoàn thành bản nháp, sinh viên cần đọc lại và chỉnh sửa bài viết. Việc chỉnh sửa này cần chú ý đến cách trình bày, độ rõ ràng và sự thống nhất của cả bài viết. Hoàn thiện và trình bày Cuối cùng, sinh viên cần hoàn thiện và trình bày bài viết theo đúng quy định của giảng viên và trường học. Qua quá trình làm tiểu luận môn tâm lý học đại cương, sinh viên có thể phát triển kỹ năng nghiên cứu, phân tích và viết, đồng thời nâng cao kiến thức và hiểu biết của mình về lĩnh vực tâm lý học đại cương. Phương Pháp Làm Tiểu Luận Tâm Lý Học Đại Cương 2. Kinh Nghiệm Viết Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Dưới đây là một số kinh nghiệm viết tiểu luận môn tâm lý học đại cương mà tôi muốn chia sẻ để giúp sinh viên viết tiểu luận hiệu quả Chọn chủ đề phù hợp Chọn một chủ đề mà bạn đam mê hoặc có kiến thức sẵn về nó. Điều này sẽ giúp cho việc nghiên cứu và viết tiểu luận trở nên dễ dàng hơn và đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin thu thập được. Thu thập thông tin từ nhiều nguồn Không nên giới hạn việc thu thập thông tin từ một nguồn duy nhất. Nên thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có được cái nhìn tổng quan và đầy đủ về chủ đề. Xác nhận độ tin cậy của thông tin Trước khi sử dụng thông tin trong tiểu luận, bạn cần xác nhận tính đúng đắn và tin cậy của thông tin đó bằng cách kiểm tra nguồn gốc và đối chiếu với các nguồn khác. Lên kế hoạch và định hướng cho bài viết Sau khi đã có đủ thông tin, bạn cần lên kế hoạch và định hướng cho bài viết của mình để tránh việc mất mát ý tưởng và mất tính logic trong bài viết. Viết bài theo chuẩn mực Viết bài theo đúng chuẩn mực về cách trình bày, lối viết và cấu trúc bài viết để giúp cho bài viết trở nên chuyên nghiệp và dễ đọc. Chỉnh sửa và sửa lại Sau khi hoàn thành bản nháp, bạn cần đọc lại và chỉnh sửa bài viết. Nên chú ý đến cách trình bày, độ rõ ràng và sự thống nhất của cả bài viết. Đọc lại và sửa chữa nhiều lần Bạn cần đọc lại bài viết và sửa chữa nhiều lần để đảm bảo rằng bài viết của mình đáp ứng được yêu cầu của giảng viên và trường học. Tham khảo tài liệu hướng dẫn Nên tham khảo tài liệu hướng dẫn của giảng viên hoặc trường học để đảm bảo rằng bài viết đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của môn học. Thông thường, giảng viên sẽ cung cấp các yêu cầu cụ thể về độ dài, định dạng, font chữ, khoảng cách dòng và số lượng nguồn tham khảo cần có trong tiểu luận. Nên đọc kỹ tài liệu hướng dẫn này để đảm bảo việc viết tiểu luận của bạn đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu của trường học. Sử dụng ngôn ngữ chuyên môn Trong tiểu luận tâm lý học, bạn cần sử dụng ngôn ngữ chuyên môn và thuật ngữ chính xác. Việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp sẽ giúp bạn truyền đạt thông tin một cách chính xác và rõ ràng. Tránh sao chép và trích dẫn đúng quy định Nếu bạn sử dụng thông tin từ nguồn khác, hãy trích dẫn đầy đủ và đúng quy định của trường học. Việc sao chép hay không trích dẫn nguồn có thể dẫn đến vi phạm quy định về đạo đức học thuật và bị xử lý nghiêm khắc. Đưa ra nhận định và suy luận Trong tiểu luận, bạn nên đưa ra nhận định và suy luận dựa trên các thông tin đã thu thập được. Đây là một phần quan trọng của tiểu luận và cho thấy sự hiểu biết và khả năng phân tích của bạn về chủ đề. Kiểm tra lại trước khi nộp Sau khi đã hoàn thành tiểu luận, bạn cần kiểm tra lại một lần nữa để đảm bảo rằng không có lỗi chính tả, sai sót và thông tin không chính xác. Nếu có thể, hãy nhờ người khác đọc lại để tìm ra các lỗi mà bạn đã bỏ qua. Tổng hợp lại, việc viết tiểu luận tâm lý học đại cương cần đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực và kiên nhẫn. Bạn cần có kế hoạch rõ ràng và sử dụng nguồn tài liệu đa dạng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của bài viết. Ngoài ra, hãy luôn chú ý đến cách trình bày, ngôn ngữ chuyên môn và việc trích dẫn nguồn để đảm bảo việc Chúng tôi kiến nghị bạn nên xem thêm bài viết này 📢📢📢 100 Đề Tài Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Tâm Lý Học [HOT] 3. Cấu Trúc Bài Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Cấu trúc bài Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương thường gồm các phần sau Giới thiệu Phần này giới thiệu đề tài của bài viết, mô tả mục đích và tầm quan trọng của đề tài và giới thiệu cấu trúc tổng thể của bài viết. Tổng quan Phần này trình bày về tình hình nghiên cứu và tiền đề lý thuyết về đề tài của bài viết. Đây là phần quan trọng để đọc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh và ngữ cảnh của đề tài. Phương pháp nghiên cứu Phần này trình bày về phương pháp nghiên cứu, ví dụ như cách thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu. Nếu có, bạn có thể cung cấp chi tiết về quy trình mẫu, phương pháp thống kê và đánh giá chất lượng nghiên cứu. Kết quả Phần này trình bày kết quả của nghiên cứu của bạn. Nó có thể bao gồm các biểu đồ, hình ảnh, bảng số liệu, mô tả kết quả, và so sánh kết quả với các nghiên cứu khác. Thảo luận Phần này giải thích kết quả của nghiên cứu và tương tác giữa các kết quả và các nghiên cứu khác. Nó cũng có thể bao gồm những giả thuyết hoặc lập luận đưa ra để giải thích kết quả. Kết luận Phần này tóm tắt các điểm chính của bài viết và đưa ra kết luận cuối cùng về đề tài. Đây là phần cuối cùng của bài viết và nó phải đưa ra một cái nhìn tổng quan và giải thích các kết quả đã được đạt được trong bài viết. Tài liệu tham khảo Phần này liệt kê tất cả các tài liệu được sử dụng trong bài viết theo đúng quy định của trường học. Mỗi phần trong bài tiểu luận có mục đích và cấu trúc riêng, và phần giới thiệu và kết luận rất quan trọng để giúp người đọc hiểu được nội dung của bài viết một cách dễ dàng. Nên chú ý đến cấu trúc của từng phần và đảm bảo rằng nó đáp ứng được các Kinh Nghiệm Viết Tiểu Luận Tâm Lý Học Đại Cương 4. Tài Liệu, Số Liệu Để Làm Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Khi làm Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương có thể sử dụng các nguồn tài liệu và số liệu sau đây Các sách chuyên ngành Các sách về tâm lý học là nguồn tài liệu quan trọng để đọc và tham khảo trong quá trình nghiên cứu và viết bài tiểu luận. Các tài liệu này bao gồm các sách giáo khoa, sách tham khảo và các tài liệu nghiên cứu. Các bài báo khoa học Các bài báo khoa học là một nguồn tài liệu rất quan trọng trong tâm lý học. Các bài báo này thường được xuất bản trên các tạp chí khoa học và chứa các kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực tâm lý học. Các cuốn sách về phương pháp nghiên cứu Việc nghiên cứu và viết bài tiểu luận đòi hỏi kỹ năng và kiến thức về phương pháp nghiên cứu. Việc đọc các cuốn sách về phương pháp nghiên cứu sẽ giúp bạn có được những kỹ năng này. Các số liệu thống kê Các số liệu thống kê giúp bạn minh họa và chứng minh các mẫu và xu hướng trong dữ liệu của bạn. Các số liệu này có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như các bài báo khoa học, sách chuyên ngành, các cơ sở dữ liệu và các bảng thống kê. Các nghiên cứu trước đó Tham khảo các nghiên cứu đã được thực hiện trước đó trong lĩnh vực tâm lý học cũng là một phương pháp hữu ích để giúp bạn hiểu rõ hơn về chủ đề của mình và phát triển các giả thuyết nghiên cứu của bạn. Trong quá trình tìm kiếm tài liệu và số liệu, bạn nên đảm bảo chúng đáp ứng được yêu cầu của đề tài và có nguồn gốc đáng tin cậy. Nên trích dẫn các tài liệu và số liệu để tránh việc vi phạm bản quyền và đảm bảo tính khách quan của bài viết. Bài viết liên quan 📢📢📢 LIST 61 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tâm Lý Học– ĐIỂM CAO 5. Quy Trình Viết Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Việc viết Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương đòi hỏi sự tập trung và quyết định trong việc lên kế hoạch và thực hiện các bước cụ thể. Dưới đây là quy trình cơ bản để viết tiểu luận môn tâm lý học đại cương Chọn chủ đề và đề tài Chọn một chủ đề hoặc đề tài cụ thể để viết tiểu luận, phù hợp với quan tâm và sở thích của bạn. Thu thập tài liệu và số liệu Sử dụng các nguồn tài liệu và số liệu phù hợp để đưa ra các lập luận và giải thích cho đề tài của bạn. Xác định cấu trúc Xác định cấu trúc bài tiểu luận của bạn, bao gồm mục đầu, phần thân và kết luận. Soạn bản nháp Soạn bản nháp đầu tiên của bài tiểu luận để giúp bạn tổ chức ý tưởng và phát triển các mục chính. Viết bản chính Dựa trên bản nháp, tiến hành viết bản chính của bài tiểu luận môn tâm lý học đại cương. Chỉnh sửa và sửa lỗi Đọc lại bài tiểu luận và chỉnh sửa các phần sai sót, thêm thông tin và phát triển các ý tưởng thêm vào. Kiểm tra tính khách quan Kiểm tra bài tiểu luận của bạn để đảm bảo rằng nó có tính khách quan và tránh đưa ra quan điểm chủ quan hoặc sai lệch. Trích dẫn và tham khảo Trích dẫn các nguồn tài liệu và số liệu phù hợp và tham khảo đúng cách để đảm bảo tính chính xác và tránh vi phạm bản quyền. Điều chỉnh và sửa lại Điều chỉnh bài tiểu luận của bạn để đảm bảo tính đầy đủ và logic. Hoàn thành và nộp bài Đảm bảo bạn hoàn thành bài tiểu luận và nộp đúng thời hạn. Trên đây là quy trình cơ bản để viết tiểu luận môn tâm lý học đại cương. Việc lên kế hoạch và thực hiện một cách có hệ thống sẽ giúp bạn viết bài tiểu luận chất lượng và hiệu quả hơn. Bài Mẫu Tiểu Luận Tâm Lý Học Đại Cương 6. Hơn 100 Đề Tài Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Dưới đây là một số Đề Tài Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương có thể tham khảo Tầm quan trọng của tâm lý học trong cuộc sống Những nguyên tắc cơ bản của tâm lý học Sự phát triển của tâm lý học qua các thời kỳ lịch sử Tác động của môi trường đến sự phát triển tâm lý của trẻ em Sự phát triển tâm lý của con người trong thời kỳ tuổi trưởng thành Những yếu tố tác động đến sự hình thành tính cách của con người Tác động của tình dục đến sự phát triển tâm lý của con người Sự khác biệt giới tính trong tâm lý học Sự phát triển tâm lý của trẻ em có nhu cầu đặc biệt Tầm quan trọng của giấc ngủ đối với sức khỏe tâm lý Những tác động của căng thẳng đến sức khỏe tâm lý Tâm lý học xã hội và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Sự ảnh hưởng của đám đông đến hành vi con người Tầm quan trọng của tình bạn đối với sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của tình yêu đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em trong gia đình Tâm lý học công nghệ và tầm quan trọng của nó trong đời sống hiện đại Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Những tác động của mạng xã hội đến sức khỏe tâm lý Tâm lý học giáo dục và tầm quan trọng của nó trong giáo dục Tâm lý học thể thao và tầm quan trọng của nó trong thể thao Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua các hoạt động ngoại khóa Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua trò chơi Tầm quan trọng của sự kiên trì đối với sự thành công tâm lý Tâm lý học sức khỏe và tầm quan trọng của nó trong việc duy trì sức khỏe Sự ảnh hưởng của nghệ thuật đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua truyền hình và phim ảnh Những ảnh hưởng của game và trò chơi điện tử đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của việc trau dồi kiến thức và học hỏi đối với sức khỏe tâm lý Những tác động của chính sách công cộng đến sức khỏe tâm lý của người dân Sự phát triển tâm lý của con người qua các thời kỳ đời sống Tâm lý học nhân văn và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Tầm quan trọng của kỹ năng quản lý thời gian đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc chơi đùa với động vật Tâm lý học giải trí và tầm quan trọng của nó trong giải trí Những tác động của phong cách sống đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng quản lý stress đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc đọc sách và tham gia các hoạt động văn hóa Tâm lý học thú cưng và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của nghề nghiệp đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của việc thể hiện cảm xúc đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động nghệ thuật Đề Tài Tiểu Luận Tâm Lý Học Đại Cương Tâm lý học du lịch và tầm quan trọng của nó trong du lịch Những tác động của công việc và nghề nghiệp đến cuộc sống tâm lý của con người Tầm quan trọng của việc đối mặt với sự thay đổi đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua các hoạt động thể chất và thể thao Tâm lý học công việc và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của sự cô đơn đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động tình nguyện Tâm lý học tình yêu và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của vấn đề tài chính đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng lãnh đạo đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động xã hội Tâm lý học về sự tự tin và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của sự thiếu ngủ đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng giải quyết xung đột đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động ngoại khóa Tâm lý học về sự chịu đựng và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của chế độ ăn uống đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng tự quản đốc đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động giáo dục Tâm lý học về sự kiên nhẫn và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của sự lạm dụng chất gây nghiện đến sức khỏe tâm lý Tiểu Luận Tâm Lý Học Đại Cương Tầm quan trọng của kỹ năng tư duy phản biện đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động hướng nghiệp Tâm lý học về sự tập trung và tầm quan trọng của nó trong đời sống Những tác động của công nghệ thông tin đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng quản lý thời gian đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động nghệ thuật Tâm lý học về sự tự trị và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của căng thẳng đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng phát triển bản thân đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động thể thao Tâm lý học về sự kiểm soát cảm xúc và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của bạo lực đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động du lịch Tâm lý học về sự đồng cảm và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của áp lực xã hội đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng phân biệt đúng và sai đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động cộng đồng Tâm lý học về sự độc lập và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Những tác động của trầm cảm đến sức khỏe tâm lý Tầm quan trọng của kỹ năng quyết định đối với sức khỏe tâm lý Sự phát triển tâm lý của trẻ em thông qua việc tham gia các hoạt động giải trí Tâm lý học về sự thấu hiểu và tầm quan trọng của nó trong đời sống con người Đề Tài Tiểu Luận Về Tâm Lý Học Đại Cương Những tác động của tâm lý học đến sức khỏe tâm lý Tác động của môi trường đến phát triển tâm lý của trẻ em Tình cảm và quan hệ xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý Hiệu quả của phương pháp trị liệu hướng nội trong tâm lý học Tâm lý học thể thao tầm quan trọng của tư duy và cảm xúc trong thành tích thể thao Bệnh trầm cảm nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị Tâm lý học của người già ảnh hưởng của tuổi tác đến sức khỏe tâm lý và cách giúp họ vượt qua khó khăn Hiểu biết và ứng phó với lo lắng và căng thẳng trong tâm lý học Tác động của công nghệ đến tâm lý con người Tâm lý học đám đông cơ chế và hiệu ứng của sự tác động của đám đông đến hành vi của cá nhân Ảnh hưởng của gia đình đến phát triển tâm lý của trẻ em Tâm lý học giới tính sự khác biệt giữa nam và nữ trong tư duy và hành vi Tác động của stress đến sức khỏe tâm lý và cách ứng phó với stress Tâm lý học của những người bị ám ảnh Nhận thức bất thường và sự suy giảm chức năng thần kinh Tâm lý học của những người giàu có sự ảnh hưởng của tiền bạc đến tư duy và hành vi Tâm lý học của nghệ sĩ và những người sáng tạo Ảnh hưởng của môi trường làm việc đến tâm lý nhân viên Sự phát triển tâm lý của trẻ em khuyết tật Tâm lý học và phân tích tội phạm cách giải thích và dự đoán hành vi tội phạm Ảnh hưởng của môi trường gia đình đến tâm lý của trẻ em khi cha mẹ ly dị Tâm lý học của những người dành cả đời để học hỏi Hiệu quả của tâm lý trị liệu trong việc hỗ trợ người nghiện ma túy đánh thức ý thức về bản thân và khôi phục sức khỏe tâm lý 7. Một Số Bài Mẫu Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương Hay Bài mẫu 1 Tiểu luận Ý chí và giải pháp rèn luyện ý chí ở sinh viên DOWNLOAD MIỄN PHÍ Bài mẫu 2 Tiểu luận môn Tâm lý học đại cương DOWNLOAD MIỄN PHÍ Bài mẫu 3 Đặc điểm trí nhớ của con người, vận dụng các quy luật trí nhớ vào quá trình dạy học DOWNLOAD MIỄN PHÍ Bài mẫu 4 Tiểu luận Các yếu tố hình thành nên nhân cách DOWNLOAD MIỄN PHÍ Bài mẫu 5 Tiểu luận Mối quan hệ di truyền và tâm lí DOWNLOAD MIỄN PHÍ Chúng ta đã đề cập đến nhiều khía cạnh quan trọng khi viết Tiểu Luận Môn Tâm Lý Học Đại Cương bao gồm phương pháp làm, kinh nghiệm viết, cấu trúc bài viết, tài liệu và quy trình viết. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã liệt kê một số đề tài tiểu luận trong lĩnh vực này để giúp cho các bạn có thêm nguồn tham khảo và lựa chọn đề tài phù hợp. Tuy nhiên, để viết được một bài tiểu luận tâm lý học đại cương chất lượng và ấn tượng, chúng ta cần phải đầu tư nghiêm túc vào quá trình nghiên cứu, phân tích và lựa chọn thông tin phù hợp. Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình học tập và làm việc trong lĩnh vực Tâm lý học đại cương. Bên mình còn có dịch vụ hỗ trợ tư vấn làm bài Luận Văn Panda nếu có nhu cầu hãy kết bạn mình qua Zalo/telegram Tôi tên là Nguyễn Anh Hiếu, năm nay 29 tuổi, tốt nghiệp thạc sĩ trường Đại học Ngoại Thương. Tôi hiện nay Chuyên phụ trách nội dung trên website Luận Văn Panda được thành lập từ năm 2009, nhóm Luận văn Panda bao gồm các thành viên tốt nghiệp đại học và thạc sĩ loại giỏi từ các trường Đại học trên cả nước, với niềm đam mê viết lách, soạn thảo văn bản, phân tích kinh tế, chúng tôi nhận hỗ trợ sinh viên Đại Học, và học viên cao học hoàn thành tốt bài luận văn đại học, và Luận văn thạc sĩ, – Hoặc ZALO Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn Nhận xét của giáo viên ™˜ .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................. ĐIỂM BẰNG SỐ BẰNG CHỮ CHỮ KÝ GIÁO VIÊN Sinh viên Lê Anh Thế 1 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn PHẦN I TỔNG QUÁT 1/ Vị trí địa lý Nơi sống Hiện tại, chị Trương Thị Mỹ Hạnh đang sống cùng chồng, con trai và mẹ chồng tại số nhà 185 đường Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1. Theo lời chị kể thì đây là một môi trường khá dễ chịu và dễ thích nghi. Mọi người xung quanh nhà và trong tổ đều hòa đồng, giúp đỡ, yêu thương nhau. Mỗi khi có chương trình của phường thì cả tổ đều nhiệt tình tham gia vui vẻ, đoàn kết, gắn bó với nhau để xây dựng một khu phố văn hóa. Trong tổ, chị Hạnh cùng gia đình tham gia phong trào “Gia đình văn hóa”. Nơi làm việc Trung tâm Nuôi dưỡng & Bảo trợ trẻ em Gò Vấp là nơi làm việc của chị. Đây là một cơ sở bảo trợ xã hội nằm trong thành phố có diện tích khoảng m 2. Trung tâm nằm đối diện với nhà thờ Gò Vấp và trường Trung học cơ sở bán công Trường Sơn; phía đông giáp với trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, phía bắc giáp với Trung tâm giáo dục dạy nghề thiếu niên thành phố. Trước ngày giải phóng Miền nam thống nhất đất nước Trung tâm được gọi là “Cô nhi viện Sao Mai Gò Vấp thuộc dòng nữ tu thánh giáo”. Năm 1976, được Sở Lao động – Thương binh & Xã hội tiếp quản và đổi tên là “Nhà nuôi trẻ mầm non 4”. Tháng 9/1995, “Nhà nuôi trẻ mầm non 4” được nâng lên thành “Trung tâm Nuôi dưỡng & Bảo trợ trẻ em Gò Vấp. Trung tâm thuộc Sở Lao động – Thương binh & Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập theo Quyết định số 6646/QĐ-NCVX ngày 09/09/1995 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Trụ sở làm việc tại Số 45 đường Nguyễn Văn Bảo, phường 4, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại 84838955581 – 389418800. Email [email protected] Chị Hạnh là nhân viên đã biên chế của Trung tâm. Công việc chính của chị là giáo viên dạy kỹ năng cho trẻ khiếm thị tại Tổ chăm sóc đặc biệt trong Trung tâm. Chị bắt đầu làm việc tại đây từ năm 2001, tới giờ đã được 11 năm. Trong quá trình làm việc, chị được cơ quan cử đi học đào tạo nâng cao chuyên môn về trẻ, các khóa học về tâm lý trẻ đa tật, đặc biệt là chuyên môn về trẻ khiếm thị đa tật và trẻ can thiệp sớm. Chị luôn tham gia đầy Sinh viên Lê Anh Thế 2 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn đủ các hoạt động đoàn thể trong cơ quan. Và vì vậy, chị cũng sớm được đi học cảm tình Đảng. 2/ Sơ lược về hoàn cảnh gia đình và vấn đề của thân chủ Sơ lược về thân chủ và hoàn cảnh gia đình của thân chủ Chị Trương Thị Mỹ Hạnh sinh năm 1981, quê gốc ở tỉnh Đồng Tháp. Cha mẹ mất sớm, còn lại 5 anh em bao gồm cả chị chăm sóc lẫn nhau. Chị là con thứ 3 trong gia đình 5 anh em, trước chị là 2 anh trai, sau chị là 1 em gái và 1 em trai. Anh đầu là Trương Quốc Tuấn sinh năm 1976 - hiện anh đang ở quê cùng vợ chăm sóc, trông nom đất đai, nhà cửa do cha mẹ để lại. Vợ của anh đầu là một người phụ nữ rất đảm đang, biết quan tâm, chăm sóc tới các em bên chồng và được mọi người yêu quý. Anh thứ hai là Trương Quốc Bảo sinh năm 1978,làm tài xế lái taxi kiêm thêm thợ điện. Theo lời chị kể, anh Bảo gần như là trụ cột cả về kinh tế lẫn tinh thần của cả nhà, anh em ai cũng nghe lời của anh Bảo. Tới giờ, anh vẫn chưa cưới vợ vì anh nghĩ anh còn phải có trách nhiệm lo cho đưa em trai út học xong ra trường và xin việc cho em. Em gái của chị là Trương Thị Mai Lý sinh năm 1984, hiện đang làm kế toán. Em gái đã có chồng bán điện thoại. Em trai út làTrương Quốc Thái sinh năm 1989, đang học hệ trung cấp trong trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, anh thứ hai cùng em gái, chồng của em gái và em trai út đang sống chung một nhà. Căn nhà này là do người chú cho anh em chị thuê lại. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, vì hoàn cảnh gia đình, năm 2000, chị bắt đầu lên thành phố Hồ Chí Minh kiếm sống, phụ các anh nuôi hai em nhỏ ăn học. Năm 2001, chị bắt đầu vào làm việc tại Trung tâm Nuôi dưỡng & Bảo trợ trẻ em Gò Vấp. Năm 2007, chị cưới chồng và về sống cùng chồng tại số nhà 185 đường Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1. Gia đình chị hiện nay gồm 4 người bao gồm cả chị mẹ chồng 53tuổi, chồng 30 tuổi, con trai 4 tuổi. Gia đình sống rất hòa thuận và vui vẻ. Con biết vâng lời. Mẹ chồng và chồng rất thương yêu chị. Chị không nặng gánh bên gia đình chồng vì bên chồng chỉ còn có mẹ chồng và chồng chị. Vấn đề của thân chủ Sinh viên Lê Anh Thế 3 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn Có thể khẳng định một điều là chị Hạnh không có vấn đề vướng mắc gì về phía gia đình bên ngoại hay bên nội. Theo lời chị nói, chị có một cuộc sống gia đình thực sự lý tưởng, là niềm ao ước của nhiều người phụ nữ khác. Chị cảm thấy mình may mắn khi được sinh ra trong một gia đình mà anh em đoàn kết, thương yêu nhau. Chị cảm thấy mình là người phụ nữ hạnh phúc khi cưới được một người chồng hết mực yêu thương và hiểu tâm ý chị. Tuy thu nhập từ công việc hiện tại không được cao nhưng chị hài lòng với điều đó vì hằng ngày chị được tới lớp dạy học, được chứng kiến sự phát triển, sự trưởng thành của những đứa trẻ mà chị bỏ công sức ra dạy dỗ. Nhưng trong công việc, chị luôn cảm thấy mình bị áp lực từ phía Ban lãnh đạo Trung tâm, đặc biệt là cô Hồ Thanh Loan – Giám đốc Trung tâm. Chị thực sự không thích cách lãnh đạo của cô Giám đốc vì chị thấy cô không thân thiện, gần gũi, không tâm lý, thường xuyên tạo áp lực cho nhân viên, có sự khinh thường và xa cách với những người ít học thức như chị. Đồng thời, ngoài việc được cơ quan cử đi học lấy chứng chỉ chuyên môn thì chị còn có ý định học thêm để lấy bằng Đại học chuyên ngành Tâm lý nhưng chị chưa biết hướng để đi học. Trong quá trình trò chuyện, chị còn tâm sự thêm một số mâu thuẫn phát sinh với một nhóm bạn chơi khá thân từ rất lâu. 3/ Sơ đồ phả hệ - Sơ đồ sinh thái – Bảng phân tích hệ thống thân chủ Sơ đồ phả hệ Sinh viên Lê Anh Thế 4 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn Chị Trương Thị Mỹ Hạnh, 31 tuổi Sơ đồ 1 Sơ đồ phả hệ của chị Hạnh Chú thích Nam Nữ Đã qua đời Cưới nhau Quan hệ hai chiều Quan hệ thân thiết Sơ đồ sinh thái Họ hàng Ban lãnh đạo Trung tâm Bạn bè Thân chủ Đồng nghiệp Hàng xóm Chính quyền địa phương Sinh viên Lê Anh Thế 5 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn Sơ đồ 2 Sơ đồ sinh thái của chị Hạnh Chú thích Quan hệ hai chiều Quan hệ một chiều Quan hệ xa cách Bảng phân tích hệ thống thân chủ Hệ thống thân chủ Thân chủ Anh/em ruột/chị dâu Chồng/con Mẹ chồng Bạn bè Đồng nghiệp Điểm mạnh Điểm yếu - Thích học hỏi; - Chưa mạnh dạn góp ý; - Được anh em trong nhà, chồng, - Chưa phát huy hết khả mẹ chồng thương yêu; năng của bản thân; - Con ngoan; - Có mối quan hệ xa cách - Công việc ổn định; - Được bạn bè, đồng nghiệp quý với họ hàng; - Không đồng tình với cách mến; - Có năng lực về tìm hiểu tâm lý lãnh đạo của Giám đốc Trung tâm. người khác. - Nghề nghiệp ổn định; - Cha mẹ mất sớm; - Yêu thương thân chủ; - Chưa được sự giúp đỡ - Anh, chị, em đoàn kết, thương yêu nhiều từ họ hàng. nhau. - Yêu thương, quan tâm thân chủ. - Quý mến thân chủ. - Nhiệt tình giúp đỡ thân chủ lúc - Chưa đoàn kết chặt chẽ. khó khăn. - Mỗi người một chuyên - Hòa đồng, yêu thương, giúp đỡ lẫn môn, một công việc nên nhau. - Quan tâm tới việc đào tạo, nâng Ban lãnh đạo Trung tâm cao chuyên môn cho nhân viên nói chung và cho thân chủ nói riêng. Chính quyền địa chưa hỗ trợ nhau được nhiều. - Chưa hiểu tâm lý và công việc của nhân viên; - Quá cứng nhắc trong công việc. - Kịp thời tuyên truyền các thông tin Sinh viên Lê Anh Thế 6 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn chính sách; - Quan tâm tới đời sống của từng phương Hàng xóm gia đình trong địa phương. - Gắn bó, đoàn kết, quan tâm lẫn nhau. - Thường xuyên dựa dẫm Họ hàng - Có quan tâm. vào thân chủ về vấn đề kinh tế. PHẦN II PHÚC TRÌNH CA Ngày tháng Quy trình tham vấn Ngày Nhà TV Em chào chị! Nhận xét - Trong buổi nói chuyện 24/02/2012 này, nhà TV đã biết cách TC Chào em! Nhà TV Em thấy chị đang cầm dụng cụ đi làm vận dụng một số kỹ sạch các bức tường trong lớp học của mình. Chị năng Kỹ năng đặt câu làm vậy để làm gì thế chị? Hình những bông hỏi mở, kỹ năng diễn đạt hoa, con vật này đang đẹp mà chị. lại, kỹ năng khuyến TC Chị cũng có muốn cạo nó đi đâu em. Đúng khích, kỹ năng phản ánh là phòng học đang đẹp, chẳng thiếu gì hết! cảm giác. Trong quá Nhưng ý của cấp trên làm sao mà mình dám trái trình giao tiếp, nhà TV được. luôn cố gắng duy trì giao Nhà TV Nghĩa là chị không thực sự muốn làm tiếp bằng mắt và lắng việc này? nghe chia sẻ của TC một TC Mình là nhân viên mà em, không thể trái ý cách chân thành. sếp được, không muốn cũng phải làm. À mà, - Điều mà nhà TV làm em có đang rảnh không? được trong buổi này là Nhà TV Bọn em sinh hoạt trẻ xong rồi nên bây sử dụng khá tốt kỹ năng giờ em đang rảnh chị ạ. Có gì không chị? đặt câu hỏi mở, đặc biệt TC Em bóc giúp chị xong cái hình này thì gấp là các câu hỏi mang tính Sinh viên Lê Anh Thế 7 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn hạc giúp chị nha! Biết gấp hạc không em? trung lập; duy trì giao Nhà TV Em biết mà. Em xong rồi đây. Em giúp tiếp không lời trong suốt chị gấp hạc nha! thời gian tham vấn nhằm TC Ừ, lại đây chị đưa giấy cho gấp. Hai chị em tạo lòng tin và mối quan mình cùng gấp. hệ với TC; lắng nghe Nhà TV Chị ơi! Mình nói tiếp chuyện lúc nãy chân thành để TC hiểu nhé chị! mình đang được tôn TC Chuyện gì cơ em? trọng. Quan trọng hơn Nhà TV Dạ, lúc nãy chị có nói “Mình là nhân cả, nhờ cách đặt câu hỏi viên[…], không thể trái ý sếp được, không mà nhà TV đã tìm hiểu muốn cũng phải làm”. Chị nói như vậy có phải được vấn đề chính của là chị không thích sếp ? TC là gì. Đồng thời, nhà TC Cũng không hẳn như thế, trong công việc, TV còn biết sử dụng kỹ sếp của chị đòi hỏi cao lắm, bà rất khó tính, yêu năng tóm lược tóm lược cầu mọi thứ rất khắt khe. Em có biết tại sao chị vấn đề của TC để kết phải gấp hạc không? thúc buổi nói chuyện và Nhà TV Dạ, em không biết. Chị nói em nghe hẹn gặp lại buổi sau để đi. cùng TC giải quyết vấn TC Bọn chị có nhiệm vụ phải trang trí lại đề. phòng học. Sếp yêu cầu gấp hạc rồi treo lên - Nhà TV chưa biết cách khắp phòng này. sắp xếp câu hỏi để khai Nhà TV Như thế cũng đẹp mà chị. Sao em thấy thác vấn đề; thứ tự đặt chị có vẻ như hơi miễn cưỡng với nhiệm vụ câu hỏi chưa phù hợp. này? Đây là điểm mà nhà TV TC Em à, em nên hiểu là phòng học này dành cần thay đổi. cho trẻ khiếm thị, nếu treo hạc lên thì trẻ có thấy được không, trẻ có cảm nhận được hạc là như thế nào không. Những thứ thực sự cần cho sự phát triển của trẻ thì không thấy đâu, chỉ Sinh viên Lê Anh Thế 8 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn toàn trưng bày, phô diễn thôi. Ngay cả cái ghế chị em mình đang ngồi cũng hư hết rồi đấy nhưng đề nghị xin mãi rồi cũng chưa thấy hồi đáp. Nhà TV Em rất chia sẻ với những bức xúc hiện giờ của chị. Nhưng chị có thực sự nghĩ rằng gấp hạc và trang trí hạc khắp phòng là không cần thiết đối với trẻ khiếm thị? TC Nói là không cần thiết cũng không đúng, chỉ là chị không đồng ý với phương cách này của sếp chị thôi. Chị nói rồi dù sao công việc thì vẫn phải hoàn thành theo lệnh của cấp trên. Nhà TV Dạ, em hiểu ý của chị. Chị ơi! Chị có cho rằng yêu cầu trang trí lại phòng học chẳng qua chỉ là hình thức để đẹp mắt còn Ban giám đốc thì chưa thực sự quan tâm tới nhu cầu của trẻ? TC Thì chị cũng đã nói rồi trong những việc làm đó có một phần của sự phô diễn, trưng bày mà. Chị không dám khẳng định rằng Ban giám đốc chưa thực sự quan tâm tới nhu cầu của trẻ vì chị cũng hiểu họ làm vậy cũng là muốn tốt cho trẻ thôi. Chị biết khi có đoàn khách nào tới thăm, thấy trung tâm mình chăm sóc cho trẻ tốt thể hiện từ việc trang trí phòng học, nơi ngủ nghỉ của trẻ và nhà cửa, vật dụng đều sạch sẽ thì họ sẽ hài lòng, từ đó sẽ có nhiều nguồn hỗ trợ hơn nhờ sự hài lòng về mỹ quan. Nhà TV Em nghĩ rằng chị rất hiểu công việc Sinh viên Lê Anh Thế 9 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn mình đang làm phục vụ cho mục đích gì nhưng có vẻ như những suy nghĩ của chị về sếp của chị chưa được thoải mái? TC Sếp ở trên cao chỉ biết chỉ đạo thôi. Sếp học nhiều, lắm bằng cấp này kia nên đôi khi hay có cái nhìn khinh thường những người học thấp như bọn chị. Khó tính lắm em ạ! Cả tổ chị đều khó chịu với sếp chứ không riêng gì chị. Cả việc gấp hạc này nữa, có ngày nghỉ chủ nhật thôi nhưng cũng gọi điện cho chị xuống nhận thêm giấy để gấp thêm. Hôm đó, chị mới bị mất điện thoại nên bà không liên lạc được. Hôm sau đi làm bị bà gọi lên nói cho một trận, nào là tránh tôi, trốn công việc nên mới tắt máy… Nhà TV Chị có cảm thấy mệt mỏi và áp lực vì công việc, vì sếp? TC Chị mệt mỏi không phải do công việc quá nặng nề gì mà do những áp lực mà cấp trên tạo cho chị. Nhà TV Vậy chị phải chịu áp lực đó như thế nào? TC Chị thực sự yêu công việc này. Chị yêu việc dạy dỗ bọn trẻ và được nhìn trẻ phát triển từng ngày. Tuy nhiên, cấp trên không hiểu cho bọn chị rằng thay đổi những đứa trẻ này cần thời gian nhiều như thế nào? Cấp trên yêu cầu phải thay đổi và phát triển trẻ như thế này như thế kia, đôi khi vượt quá khả năng của trẻ. Tâm lý trẻ bình thường đã phức tạp, đối với trẻ Sinh viên Lê Anh Thế 10 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn khiếm thị, thiểu năng trí tuệ còn khó hơn nhiều lần. Lãnh đạo kỳ vọng vào sự thay đổi đó rồi thường xuyên gây áp lực cho bọn chị. Trong khi đó, chế độ chính sách với những nhân viên như chị chưa thỏa đáng. Thời gian mà chị dành cho công việc, cho bọn trẻ ở đây chiếm 2/3 thời gian trong ngày, nhiều hơn thời gian chị dành cho gia đình, cho con trai chị. Cấp trên đã bao giờ thực sự quan tâm tới đời sống của bọn chị đâu. Nhà TV Theo như chị nói thì chế độ chính sách cho những nhân viên như chị chưa thỏa đáng nhưng theo em biết thì chị cũng đã được Trung tâm cử đi học nâng cao chuyên môn. Chị nghĩ như thế nào về chính sách này của Trung tâm? TC Chị rất cảm ơn Trung tâm vì đã cho bọn chị đi học nâng cao chuyên môn. Đó cũng là vì công việc mà bọn chị đang đảm nhiệm. Đó là vì Trung tâm muốn cho trẻ những điều kiện phát triển tốt nhất. Tuy nhiên, lương đã thấp, cấp trên lại không quan tâm tới cuộc sống riêng, tâm tư của nhân viên nên đôi khi chị cũng hơi nản và chán. Nhà TV Vậy tương lai lâu dài, chị có ý định gắn bó với công việc, với Trung tâm? TC Có lẽ không đâu em à! Chị là người biết đủ với cuộc sống. Chị không thích một cuộc sống xô bồ, chen chúc. Sự ổn định là điều chị mong muốn. Chị chỉ muốn học thêm để lấy bằng Đại Sinh viên Lê Anh Thế 11 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn học về Tâm lý thôi. Nhưng hiện tại chị cũng chưa biết những nơi nào đào tạo và hình thức học như thế nào. Nhà TV Với những điều chị chia sẻ từ nãy tới giờ thì em cũng hiểu được một phần rằng chị đang có một số điểm chưa đồng tình với cách quản lý của cấp trên; chị cho rằng sếp chưa hiểu nhân viên, chưa quan tâm tới đời sống của nhân viên, thường xuyên gây áp lực công việc và đồng thời chị cũng đang có ý định đi học thêm để lấy bằng Đại học. Tuy nhiên, trong buổi hôm nay, em và chị có lẽ sẽ khó có biện pháp để giải quyết hiệu quả những vấn đề trên. Vậy em hẹn chị buổi sau, em và chị sẽ cùng nhau đưa ra một số cách cho những vấn đề mà chị đang thắc Ngày 27/02/2012 mắc. Nhà TV Em chào chị! Hôm nay chị thế nào? - Nhà TV sử dụng tốt kỹ TC Chào em! Hôm nay chị rất vui. năng đặt câu hỏi mở, kỹ Nhà TV Chị có thể chia sẻ niềm vui ấy với em? năng tóm lược vấn đề, TC Em nhìn xem! Trong phòng có gì mới! nội dung của buổi nói Nhà TV Ah! Đây chẳng phải là những con hạc chuyện, kỹ năng khuyến mà hôm trước chị với em cùng gấp hay sao? khích làm rõ ý, kỹ năng Em thấy phòng học đẹp lên rất nhiều đấy chị à! diễn đạt lại, kỹ năng Đúng là có làm mới biết việc này hữu ích như phản ánh cảm xúc, kỹ thế nào chị nhỉ? năng thấu cảm. TC Đúng thật! Mình chẳng làm quan to được là - Trong quá trình giao bởi vậy. Mình không có được cái nhìn xa như tiếp, trò chuyện, nhà TV sếp. luôn cố gắng duy trì giao Nhà TV Ý của chị là lúc làm chị không nghĩ là tiếp phi ngôn ngữ bằng phòng học sẽ đẹp lên nhiều như thế này. ánh mắt, bằng những cái Sinh viên Lê Anh Thế 12 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn TC Ừ, chị còn nghĩ là không cần thiết vì phòng chạm tay nhẹ; luôn lấy học vốn trang trí rất đẹp. Nhưng bây giờ, phòng thân chủ làm trọng tâm, học đẹp hơn trước nhiều nhờ mấy con hạc này, tin tưởng vào khả năng công việc hoàn thành trước thời hạn, nhìn thành của thân chủ trong việc quả của mình tạo ra như thế này chị vui lắm. giải quyết vấn đề. Nhà Nhà TV Buổi hôm trước em đã hẹn chị hôm TV biết cách đặt mục nay sẽ cùng chị giải quyết một số thắc mắc của tiêu và kế hoạch cho chị. Chị đã sẵn sàng chưa? từng buổi tham vấn, biết TC Tâm trạng vui như hôm nay sao lại không sắp xếp thứ tự ưu tiên sẵn sàng được? cho từng vấn đề. Nhà TV Như chia sẻ của chị buổi hôm trước thì - Điều mà nhà TV làm chị không thích làm việc này nhưng đó là do chưa tốt, cần thay đổi đó cấp trên giao nên chị phải làm. Chị không thích là chưa huy động tối đa cách làm việc, cách lãnh đạo của cấp trên. Vậy khả năng tự giải quyết bây giờ, khi đã hoàn thành xong công việc được vấn đề của TC. giao phó, chị có chút thay đổi gì trong suy nghĩ của mình về cấp trên? TC Sếp thực sự là một người tài giỏi. Đó là một điều không ai có thể phủ nhận. Họ có giỏi, có tài, có tầm nhìn xa trông rộng thì mới quản lý, lãnh đạo được Trung tâm phát triển. Nhưng … Nhà TV Em vẫn đang nghe đây. Chị nói tiếp đi. TC Nhưng chị vẫn cảm thấy mình và sếp có một khoảng cách nào đó. Sếp không thân thiện, gần gũi với nhân viên, chưa tâm lý với nhân viên Nhà TV Chị cảm thấy khó chịu và khó hòa hợp với sếp vì điều đó? Sinh viên Lê Anh Thế 13 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn TC Mình làm sao mà hòa hợp và vui vẻ với người như thế được hả em. Nhà TV Mỗi người, ai cũng cần sự quan tâm, chia sẻ từ người khác – đó là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống, trong xã hội đầy bon chen như hiện nay. Vậy chị đã từng có quan tâm, gần gũi với sếp như thế nào? TC Chưa từng em à! Chị gặp sếp vì cần giải quyết công việc thôi. Nhà TV Chị có cho rằng sếp cũng là một người mẹ, người vợ, cũng có gia đình, cũng có công việc phải lo lắng vừa ở nhà vừa quản lý ở cơ quan, gánh nặng đè lên sếp rất nhiều thì sự quan tâm, gần gũi tới từng nhân viên sẽ bị giảm đi phần nào và không được trọn vẹn, không như chị mong đợi? TC Chị cũng có gia đình nên chị có thể hiểu phần nào cảm giác của sếp. Có lẽ sếp phải chịu nhiều áp lực, nhiều gánh nặng hơn những nhân viên như bọn chi. Nhà TV Như chị vừa chia sẻ thì em nghĩ rằng chị rất hiểu lý do cho những việc làm của sếp chị. Chị nghĩ như thế nào nếu chị mở lòng hơn với sếp của chị, gần gũi, quan tâm tới cuộc sống của sếp trước? TC Chị sống với ai cũng thật lòng nhưng chị cũng không thích nịnh bợ ai. Nhà TV Em hiểu ý chị và biết chị là một người rất thẳng tính. Nhưng việc mở lòng, gần gũi, Sinh viên Lê Anh Thế 14 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn quan tâm không đồng nghĩa với việc nịnh bợ. Có thể chỉ là những lời chào hỏi hằng ngày về hỏi thăm sức khỏe, công việc, những cuộc điện thoại ngắn trong những dịp lễ tết. Chỉ là những hành động đơn giản nhưng có thể sẽ khiến sếp cảm thấy mình được nhân viên yêu quý. Ai cũng muốn mình được quan tâm, yêu thương mà chị. Em tin rằng chị có thể làm tốt điều này. TC Chị sẽ thử. Nhưng liệu có hiệu quả không em? Nhà TV Em không dám chắc sẽ hiệu quả ngay 100% nhưng em tin rằng mình đối xử chân thành thì sẽ nhận lại được sự chân thành. Sự quan tâm mỗi ngày từng chút một của chị tới sếp sẽ rất dễ để sếp nhận ra tấm lòng của chị với sếp. TC Chị sẽ cố gắng làm điều đó. Nhưng nếu không thể thì có lẽ chị phải chấp nhận sự khác biệt đó thôi. Nhà TV Cuộc sống đôi khi là sự chấp nhận lẫn nhau để tồn tại. Chấp nhận cũng là một giải pháp tốt. Nếu khi chị đã cố gắng hết sức để cải thiện mối quan hệ với sếp mà không có hiệu quả như mong muốn thì chị hãy thử cách chấp nhận họ, chấp nhận con người vốn có của họ. TC Chị sẽ ghi nhớ điều này. Chị cảm ơn em. Nhà TV Dạ, không có gì. Vậy là hôm nay em và chị đã cùng nhau đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện mối quan hệ giữa chị và cấp Sinh viên Lê Anh Thế 15 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn trên. Trong buổi tới, em và chị cùng chia sẻ sâu hơn về việc cấp trên thường gây áp lực đối với nhân viên. Đồng thời, em sẽ cung cấp thông tin về một số trường có đào tạo Đại học ngành mà chị có nguyện vọng học thêm. Được không chị! TC Được em. Vậy là hôm sau phải không em? Ngày 29/2/2012 Nhà TV Vâng ạ! Hẹn gặp lại chị. Nhà TV Em chào chị! - Nhà TV sử dụng tốt các TC Chị chào em! kỹ năng trong tham vấn Nhà TV Như đã hẹn buổi trước, hôm nay, em như kỹ năng đặt câu hỏi và chị sẽ cùng chia sẻ sâu hơn về việc cấp trên mở, kỹ năng gợi mở, thường gây áp lực đối với nhân viên và đồng phân tích vấn đề, kỹ thời em sẽ cung cấp cho chị một số trường có năng khuyến khích làm đào tạo Đại học ngành Tâm lý. rõ ý, kỹ năng phản ánh TC Ừ! cảm xúc, kỹ năng thấu Nhà TV Trước hết, chị có thể cho em biết cảm, kỹ năng lắng nghe, những công việc, nhiệm vụ mà cấp trên giao kỹ năng cung cấp thông cho chị - theo cảm nhận của chị là có quá khó tin. và đã có lần nào chị chưa hoàn thành công việc - Nhà TV đã làm tốt và bị khiển trách? trong việc giúp thân chủ TC Nghĩ lại thì đó cũng đều là những công việc nhận ra cốt lõi, nguyên mà chị có thể làm và hoàn thành tốt. Ngoại trừ nhân của vấn đề; cung việc dạy những đứa trẻ khiếm thị, cấp trên cứ cấp thông tin cần thiết đòi hỏi trẻ phải có sự thay đổi, phải có sự phát cho TC trong vấn đề học triển nhanh, nhưng đó là việc làm lâu dài, cần Đại học và hướng để TC tới không chỉ là 1 năm, 2 năm, 3 năm mà thậm tự tìm hiểu thêm. chí lâu hơn thế. Chị chỉ mong cấp trên hiểu cho - Nhà TV cần cung cấp chị điều này. thêm thông tin cho TC rõ Nhà TV Chị có nghĩ đó là cách mà cấp trên làm ràng và cụ thể hơn. Đây vừa để nhân viên phát huy hết năng lực cá nhân, là điểm nhà TV nên khắc Sinh viên Lê Anh Thế 16 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn đồng thời để giúp Trung tâm phát triển nhanh phục. hơn? TC Chị cũng không rõ nữa. Có lẽ giống như em nói quá! Nhà TV Chị có thể nói rõ hơn? TC Thì ý chị là nghe em nói chị mới hiểu ra mục đích của cấp trên khi gây áp lực công việc cho bọn chị. Mà dù sao đi nữa, thời gian bọn chị dành cho bọn trẻ ở Trung tâm là rất nhiều so với gia đình nhỏ của chị. Nhà TV Chị có miễn cưỡng quá với công việc? TC Ồ, nói thì vậy, nhưng chị chấp nhận sự khó khăn của công việc. Chị đã có một gia đình hạnh phúc, công việc và lương hàng tháng ổn định nên cũng không muốn có cái gì đó làm thay đổi cuộc sống hiện tại. Nhà TV Sự ổn định về mặt kinh tế có phải là lý do khiến chị gắn bó với công việc mặc dù cấp trên gây áp lực cho chị? TC Đó là một phần nhỏ thôi. Nhà TV Vậy lý do chính của chị là gì? TC Chị yêu bọn trẻ, yêu như chính con của chị. Ngày nào không tới Trung tâm, không được gặp và dạy dỗ bọn trẻ là chị rất nhớ chúng. Ngoài ra, nhờ em, chị cũng đã hiểu rằng việc gây áp lực của cấp trên có lẽ phần lớn là muốn bọn chị phát huy hết năng lực cá nhân và đẩy nhanh sự phát triển của Trung tâm. Con người mà em, ai chẳng muốn mình luôn phát triển. Khi có cơ hội Sinh viên Lê Anh Thế 17 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn được thể hiện, được phát triển thì chị không ngại đâu vì chị rất thích học hỏi. Àh Trung tâm mà ngày càng phát triển thì lương của bọn chị sẽ được tăng lên ấy chứ. Nhà TV Vâng, em hiểu ý của chị. Em rất vui khi chị đã hiểu ra cốt lõi của vấn đề này. Chị có đang cảm thấy thoải mái? TC Ừ, chị đang rất thoải mái khi nói ra được những tâm sự trên. Nhà TV Vậy từ bây giờ, chị nghĩ chị sẽ làm gì để đón nhận những áp lực từ phía cấp trên? TC Chị sẽ đối mặt với khó khăn và cố gắng vượt qua. Sức người là vô hạn mà phải không em? Nhà TV Dạ, đúng là như vậy. Đối mặt và vượt qua là cách tốt nhất. Dùng ý chí, sự kiên nhẫn để làm việc sẽ dẫn tới thành công chị à! Em tin chắc chị sẽ hoàn thành tốt công việc. TC Chị cảm ơn em! Nhà TV Dạ, không có gì. Như chị chia sẻ ngay từ buổi nói chuyện đầu tiên thì chị có ý định học thêm để lấy bằng Đại học ngành Tâm lý. Điều gì đã thúc đẩy chị có ý định này khi mà công việc hiện tại của chị đã khá ổn định? TC Chỉ là chị thích thôi. Chị thấy mình có khả năng tìm hiểu về tâm lý, đồng thời chị cũng đã từng được học mấy khóa đào tạo của Trung tâm về tâm lý, đặc biệt là tâm lý trẻ. Nhà TV Chị có nghĩ rằng nó sẽ giúp ích cho Sinh viên Lê Anh Thế 18 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn công việc hiện tại của chị? TC Chắc chắn là có rồi. Đối tượng mà chị tiếp xúc, dạy dỗ là những đối tượng có rối nhiễu về tâm lý rất nặng. Bởi vậy, chị muốn đi học thêm để vừa là bằng với mọi người vừa là phục vụ cho công việc. Nhà TV Em hiểu ý chị. Em nhận thấy chị thực sự là một người rất ham học hỏi. Theo như những hiểu biêt và sự tìm hiểu của em thì hình thức học Đại học phù hợp nhất với người đi làm như chị là Đại học hệ tại chức. Đây là hệ dành cho người vừa đi học vừa đi làm nên về mặt thời gian khá thuận lợi cho người học. TC Học phí thì sao hả em? Nhà TV Từ khoảng 6 – 7 triệu/năm. TC Ồ, cũng không đắt lắm. Chị nghĩ là chị có đủ khả năng tài chính để theo học. Nhà TV Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh có một số trường tiêu biểu đào tạo ngành Tâm lý như Đại học Khoa học – Xã hội & Nhân văn, Đại học Mở, Đại học sư phạm… Hầu hết các trường trước khi tuyển sinh sẽ có thông báo và tổ chức ôn thi cho các học viên có hồ sơ đăng ký tuyển sinh. Sau đó, trường sẽ tổ chức thi để loại bớt học viên. Đây là địa chỉ một số trường em vừa nêu, để rõ ràng hơn, chị có thể đến tận trường để hỏi thủ tục và hồ sơ đăng ký. TC Ừm, chị cảm ơn em. Khi nào có thời gian rảnh chị sẽ tới và hỏi. Sinh viên Lê Anh Thế 19 Lớp ĐH10CT Tiểu luận môn Tham vấn và thực hành tham vấn Nhà TV Vậy là, trong buổi hôm nay, em và chị đã cùng đạt được mục tiêu đề ra từ đầu buổi. Trong thời gian tới, nếu có gì khó khăn thì chị cứ chia sẻ với em. Em và chị sẽ cùng nhau giải quyết. Ngày 7/3/2012 TC Ừ, chị biết rồi. Cảm ơn em nhiều nha! Nhà TV Em chào chị! - Nhà TV sử dụng tốt kỹ TC Ừ, chào em! năng lắng nghe, kỹ năng Nhà TV Cũng lâu rồi chị em mình không trò phản hồi, kỹ năng đặt chuyện chị nhỉ? Mấy bữa nay em bận rộn với câu hỏi, kỹ năng phân bé Khánh quá! Em với bé đang trong giai đoạn tích làm sáng tỏ vấn đề, trị liệu nên em cũng không có thời gian. Chị kỹ năng thấu cảm, kỹ dạo này thế nào? năng phản ánh cảm giác. TC Mọi việc đều bình thường. Công việc cũng - Nhà TV làm khá tốt ổn em à! trong việc huy động tối Nhà TV Nhưng sao hôm nay em nhìn chị có vẻ đa khả năng tự giải quyết không được vui như mọi ngày. Ánh mắt chị vấn đề của TC. chứa điều gì đó rất buồn. TC Để chị kể cho em nghe chuyện này thì em sẽ biết tại sao chị lại mang tâm trạng như thế này. Nhà TV Dạ, em nghe đây. Chị kể đi. TC Cuối tuần vừa rồi, chị ở nhà có một mình, chồng chị đi trực đêm ở cơ quan, má chồng chị dẫn con trai chị cùng đi du lịch với mấy người trong tổ. Chị buồn nên rủ nhóm bạn mà chị chơi rất thân đi chơi. Bọn chị đi uống cà phê, ngồi tán gẫu với nhau. Sau đó, mấy bạn chị biết nhà chị không có ai nên hò nhau tới nhà chị ngủ. Cũng khá lâu rồi nhóm không tụ tập nên chị Sinh viên Lê Anh Thế 20 Lớp ĐH10CT Trong khoảng 10 năm gần đây tại Việt Nam việc thực hiện tư vấn tâm lý học đường đã thu lại được kết quả tốt qua hình thức giải đáp, tham vấn, tư vấn tâm lý của học sinh. Vậy hoạt động tâm lý học đường cụ thể là gì, có quy trình và vai trò ra sao? 1. Tư vấn tâm lý học đường là gì?2. Thực trạng tâm lý học đường hiện nay3. Quy trình tham vấn tâm lý học Thiết lập mối quan Làm rõ vấn Phân tích vấn Đề xuất các giải Thảo luận và lựa chọn giải Thực hiện chiến Đánh giá hiệu quả can thiệp và theo dõi 4. Vai trò của tư vấn tâm lý học đường Đây là hoạt động hỗ trợ tâm lý cho học sinh, sinh viên, giáo viên và cả các bậc phụ huynh. Việc thực hiện tư vấn tâm lý này sẽ giúp các học sinh, sinh viên gặp những khó khăn trong quá trình học tập, các mối quan hệ trong trường học cảm thấy cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Việc thực hiện tư vấn tâm lý trong trường học là điều cần thiết cho trẻ đang ở độ tuổi vị thành niên. Nguồn 2. Thực trạng tâm lý học đường hiện nay Hiện nay thực trạng tâm lý học đường tại Việt Nam đang rất căng thẳng, gây áp lực lớn tới phụ huynh, nhà trường và các nhà chức trách. Theo kết quả khảo sát khám sức khỏe định kỳ cho trẻ ở lứa tuổi THCS tại Hà Nội mới đây cho thấy có đến 25,7% trên tổng số học sinh mắc phải các chứng bệnh tâm thần. Đặc biệt là tỷ lệ các em nữ giới lại mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Cũng theo khảo sát này có tới 20,6% các em học sinh đang học lớp một thường lo lắng quá nhiều về kết quả học tập gây ra bệnh trầm cảm. Theo một nghiên cứu điều tra khác trên trẻ em, ở độ tuổi từ 6-16 tuổi tại 10 tỉnh Việt Nam, có tới 9,6% trẻ mắc các bệnh hướng nội ở mức độ nhẹ. Trẻ mắc bệnh trầm cảm do nghiện chơi các trò game điện tử chiếm 1,8%, cảm thấy không hài lòng về cơ thể và ngoại hình chiếm 4,1%, buồn bã về chuyện tình cảm chiếm 16,29% và có lối sống khép kín, thu mình lại chiếm 2,1%. Dựa vào những thống kê này có thể thấy thực trạng tâm lý học đường tại Việt Nam đang rất nghiêm trọng và cần phải thực hiện những hoạt động tư vấn tâm lý trong học đường cho trẻ kịp thời. Nhiều trẻ ở độ tuổi THCS mắc các chứng bệnh rối loạn tâm lý do áp lực học tập lớn. Nguồn 3. Quy trình tham vấn tâm lý học đường Thiết lập mối quan hệ Nhà tư vấn tâm lý trong học đường thực hiện tham vấn tâm lý học đường sẽ phỏng vấn và trao đổi trực tiếp giáo viên và phụ huynh những người phát hiện vấn đề bất thường ở trẻ để cùng nhau xây dựng mục tiêu chung là giúp trẻ thoát khỏi những vấn đề tâm lý đang vướng mắc. Làm rõ vấn đề Nhà tư vấn tâm lý học đường sẽ trực tiếp gặp các em học sinh đang có vướng mắc tâm lý. Xác định vấn đề cần giải quyết bằng những phương pháp khám chuyên khoa tâm lý cho trẻ, giúp trẻ đặt ra được mục tiêu và phương hướng chữa bệnh tâm lý của bản thân. Các nhà tư vấn tâm lý trong học đường bằng những phương pháp chuyên môn sẽ xác định rõ vấn đề tâm lý ở trẻ là gì? Nguồn Phân tích vấn đề Sau khi đã hiểu rõ được các vấn đề tâm lý mà trẻ đang mắc phải, nhà tư vấn tâm lý ở học đường sẽ phân tích lại vấn đề dựa trên những dữ liệu và thông tin thu thập được trước đó. Đặc biệt sẽ chú trọng tới việc phân tích các yếu tố xung quanh ảnh hưởng tới trẻ như môi trường học tập, người thân xung quanh… để tìm được phương hướng giải quyết phù hợp. Đề xuất các giải pháp Các giải pháp và phương hướng giải quyết vấn đề tâm lý phải được đề xuất từ trước. Sau khi đã tìm hiểu rõ vấn đề tâm lý, nhà tâm lý học đường sẽ đề xuất tới đối tượng điều trị và người thân xung quanh các giải pháp thực hiện. Thảo luận và lựa chọn giải pháp Các nhà tư vấn tâm lý học đường sẽ cùng với phụ huynh và người thân thực hiện lựa chọn giải pháp phù hợp với từng đối tượng trẻ mắc bệnh tâm lý. Thực hiện chiến lược Các nhà tâm lý học đường sẽ thực hiện các phương pháp điều trị tâm lý cho trẻ trong một khoảng thời gian nhất định. Đánh giá hiệu quả can thiệp và theo dõi Sau khoảng thời gian thực hiện điều trị tâm lý nhất định, nhà tâm lý học đường sẽ đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị, xác định xem có cần can thiệp thêm các phương pháp điều trị khác không. Việc thực hiện tư vấn tâm lý trong học đường cho trẻ đòi hỏi một quy trình và chiến lược cụ thể. Nguồn 4. Vai trò của tư vấn tâm lý học đường Việc các bậc phụ huynh, giáo viên và nhà trường thực hiện tư vấn tâm lý trong nhà trường cho trẻ sẽ đem lại được nhiều lợi ích lớn, cụ thể như sau Thực hiện tư vấn tâm lý học đường giúp trẻ giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong cuộc sống. Đồng thời trẻ có thể phát triển được kỹ năng học tập, năng lực và nhân cách. Sẽ giúp các bậc phụ huynh quan tâm và chăm sóc con cái của mình nhiều hơn. Từ đó, có thể phát hiện sớm những vấn đề tâm lý con trẻ mắc phải và phối hợp kịp thời cùng nhà trường, các nhà tâm lý học để giải quyết vấn đề nhanh chóng. Thực hiện tư vấn học đường đem lại cả lợi ích lớn cho các bậc phụ huynh, giáo viên và nhà trường. Nguồn Thực hiện tư vấn tâm lý nơi học đường giúp giáo viên có thể tiếp cận, giao tiếp với học sinh của mình dễ dàng hơn. Qua đó, có thể phát hiện được sớm những vấn đề tâm lý ở trẻ để can thiệp và chăm sóc sức khỏe cho trẻ kịp thời. Thực hiện tư vấn tâm lý giúp nhà trường lên được các chiếc lược giáo dục cho học sinh của mình. Đồng thời có thể phối hợp với các bậc phụ huynh tổ chức các hoạt động tập thể cho trẻ, giúp trẻ phát triển kỹ năng và ngăn chặn các nguy cơ mắc bệnh tâm lý học đường. Thực hiện tư vấn tâm lý học đường giúp phụ huynh và nhà trường phối hợp được cùng với các tổ chức liên quan hỗ trợ và giúp đỡ các học sinh mắc bệnh tâm lý. Qua đây có thể thấy rõ một điều rằng việc thực hiện tư vấn tâm lý học đường là rất cần thiết và nên được đẩy mạnh trong các nhà trường. Bên cạnh đó, cha mẹ cần quan tâm con em mình nhiều hơn, ngoài việc đưa trẻ đi khám tổng quát sức khỏe định kỳ thì nếu thấy con trẻ trong gia đình mắc các biểu hiện rối loạn tâm lý, hãy cho trẻ được tư vấn tâm lý trong học đường, tránh tình trạng chuyển biến thành các bệnh tâm lý nguy hiểm. Thêm nữa, các bố mẹ cũng không nên gây áp lực quá nhiều về chuyện học tập hay áp đặt con phải làm những điều con không thích quá mức, ngược lại nên để con có sự thoải mái cần thiết, cuối tuần hay dịp nghỉ lễ, nghỉ hè đưa các bé đến các khu vui chơi giải trí hấp dẫn để bé có thể hoạt động năng nổ cùng bạn bè. Hoặc du lịch tham quan khám phá nhiều nơi cũng là cách cho bé thoải mái,… hay động viên khích lệ kịp thời những cố gắng dù là nhỏ của con bằng việc mua đồ ăn ngon, thưởng cho con món đồ con thích,…. các bậc phụ huynh nhé! THAM VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG, LỊCH SỬ VÀ PHÁT TRIỂN Ngô Minh Uy A. Đôi nét về lịch sử 1. Thế giới Tham vấn tâm lý học đường School Counseling hay còn gọi là tham vấn học đường là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý được xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ. Jesse B. Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” Vocational and Moral Guidance cho học sinh các trường học công. Frank Parsons, được xem như cha đẻ của nghề Hướng dẫn còn gọi Khải đạo, đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ” Choosing a Vocation vào năm 1909 qua đó trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp. Jesse Davis, Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều người khác nữa đã tạo thành một trào lưu thúc đẩy cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường. Thế chiến thứ nhất, xuất hiện nhu cầu đánh giá trắc nghiệm các cá nhân, từ lúc này thuật ngữ nhà tham vấn counselor, thường được đề cập như là những chuyên gia làm việc với những người trầm cảm, đã bắt đầu trở thành một phần trong từ điển của các nhà giáo dục. Thế chiến thứ hai kết thúc với những hậu quả nặng nề làm nảy sinh một nhu cầu rất lớn về các trắc nghiệm tâm lý và nó đã tác động một cách trực tiếp đến hoạt động khải đạo trong trường học. Cũng vào thời gian thế chiến thứ hai này, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra yêu cầu cho các nhà tham vấn làm công việc sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân và những chuyên gia cho các ngành công nghiệp. Những năm 1930, lý thuyết đầu tiên về Khải đạo được giới thiệu Lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của E. G. Williamson, E. G. Williamson’s Trait and Factor theory. Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn. Năm 1940, đạo luật George Barden George Barden Act – đạo luật về giáo dục hướng nghiệp – ra đời đã mang lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và hỗ trợ hoạt động khải đạo và tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi trường khác. Đây là lần đầu tiên những nhà tham vấn học đường, những kiểm huấn viên địa phương và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ sự điều hành, tài chính và nguồn nhân lực… Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạo cũng là thời điểm mà ngành tham vấn và khải đạo được “phóng lên”. Tiếp theo đó, đạo luật Nat’l Defense Ed. Act NDEA ra đời năm 1958. Có thể tham khảo đạo luật này tại đây. Đạo luật NDEA tập trung vào hai vấn đề 1. Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt động tham vấn, trắc nghiệm và khải đạo trong trường học; 2. Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình đào tạo tham vấn học đường Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ ASCA tham gia vào APGA American Personnel and Guidance Association, tiền thân của hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA American Counseling Association ngày nay. Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi The Counselor in a Changing World đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường. Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học đường Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học Elementary and Secondary Education Act ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho những gia đình nghèo. Đến những năm 80s và 90s, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính và vai trò của nhà tham vấn học đường được xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan. Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấn học đường National Standards for School Counseling Programs ra đời và kể từ đó, ngành tham vấn học đường được xem là đã hoàn thiện. Hiện nay, hiệp hội các nhà tham vấn học đường Hoa Kỳ ASCA được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới. ASCA hiện tại có hơn hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn hội viên trên toàn thế giới. 2. Việt Nam Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình khải đạo học đường đã được triển khai trong các trường học. Sau ngày thống nhất đất nước, với sự thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trình khải đạo đã không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, với sự xuất hiện hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật trường học, học sinh tự tử, áp lực thi cử, những rối loạn tâm lý, quan hệ thầy trò… của các trường học Việt Nam, những nhà giáo dục, tâm lý và cùng những tổ chức và các cơ quan hữu trách đã “giật mình” và bắt đầu đề cập đến việc phải có các hoạt động tham vấn tâm lý trong trường học. Từ khoảng năm 2000, nhiều trường học tại Tp. HCM như trường Khánh Hội A – quận 4, Nguyễn Gia Thiều – quận Tân Bình, Diên Hồng – quận 10, Trương Công Định, Phú Mỹ – quận Bình Thạnh, Mạc Đỉnh Chi – quận 6 và rất nhiều trường khác nữa… đã chủ động phối hợp với các chuyên viên tâm lý và các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các chương trình tham vấn học đường cho học sinh. Năm 2003, hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại Tp. HCM” được Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường ĐHSP Tp. HCM tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý, giáo dục và hiệu trưởng các trường có hoạt động tham vấn học đường để “mổ xẻ” và kêu gọi sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như các cơ quan chính phủ trong việc có các chiến lược nhằm phát triển hoạt động tham vấn học đường tại Việt Nam. Cũng trong thời gian này, một vài sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục trường ĐHSP TP. HCM đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình về vấn đề tham vấn học đường. Những “sự kiện” này được xem là những bước khởi đầu cho nhiều sự thay đổi tiếp theo của ngành tham vấn học đường tại Việt Nam. Năm 2004, Trung tâm Hỗ trợ tư vấn tâm lý CACP thuộc trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động nghiên cứu và hỗ trợ hoạt động tham vấn học đường. Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em TP. HCM và sự hỗ trợ của UNICEF, Văn phòng tư vấn trẻ em Tp. HCM đã tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” cũng nhận được sự quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo các trường học. Đầu năm 2006, hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý – giáo dục – thực tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Tp. HCM tổ chức cũng đề cập đến vấn đề tham vấn học đường như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ học sinh và nhà trường trong hoạt động giáo dục. Sở Giáo dục – Đào tạo Tp. HCM cũng tổ chức những buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và phụ huynh học sinh Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được ban hành nhằm chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chức liên quan trong việc triển khai thực hiện chương trình tham vấn học đường. Ngoài ra, chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ Tp. HCM khởi xướng ThS. Nguyễn Thị Oanh phụ trách cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo học sinh, phụ huynh và các trường học. Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc. Đến nay, vấn đề tham vấn học đường tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em học sinh, phụ huynh, nhà trường, các nhà tâm lý – giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ. Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật sự được định hình. B. Một số vấn đề thực tiễn và gợi ý phát triển 1. Nhà tham vấn học đường làm gì? Tham vấn tâm lý là hoạt động tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ và cả gia đình nhằm hỗ trợ, giúp đỡ thân chủ giải quyết những khó khăn trong nhận thức, cảm xúc và hành vi và qua đó, phát triển nhân cách, định hướng nghề nghiệp, cách sống lành mạnh và những vấn đề khác thuộc về các rối loạn cảm xúc và nhân cách. Đối tượng của tham vấn tâm lý thường là những người “bình thường” đang gặp phải những khó khăn trong đời sống cá nhân, sự phát triển nhân cách và các mối quan hệ. Tham vấn tâm lý cũng được xem là một mức độ của hoạt động trị liệu tâm lý, đôi khi ranh giới giữa tham vấn và trị liệu là khó xác định được một cách rõ ràng. Trong môi trường học đường, những nhà tham vấn học đường sử dụng những kiến thức tâm lý học và các kỹ năng tham vấn nhằm giúp trường học giải quyết những vấn đề sau o Hỗ trợ học sinh, sinh viên giải quyết những khó khăn trong việc phát triển nhân cách, năng lực và kỹ năng học tập, định hướng nghề nghiệp, lối sống khỏe mạnh, các mối quan hệ liên nhân cách và những rối loạn cảm xúc và nhân cách. o Hỗ trợ phụ huynh trong việc quan tâm, chăm sóc và giáo dục con cái, phát triển mối quan hệ với nhà trường một cách tích cực, phát hiện những khó khăn của con cái và phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục. o Hỗ trợ giáo viên và những thành viên khác trong nhà trường trong việc giao tiếp và tiếp cận với học sinh, kịp thời phát hiện những nhu cầu và những vấn đề cần sự can thiệp của nhà tham vấn. o Hỗ trợ nhà trường trong việc hoạch định các chiến lược giáo dục toàn diện cho học sinh, cách thức phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục, cách thức tổ chức các hoạt động nhằm phát triển và ngăn ngừa các hành vi nguy cơ trong trường học của học sinh. o Phối hợp với các tổ chức liên quan trong việc hỗ trợ và can thiệp trong trường hợp học sinh có những vấn đề liên quan đến những hoạt động bên ngoài như các vấn đề pháp luật, các vấn đề về bệnh tâm lý… Lưu giữ hồ sơ những học sinh có những vấn đề về tâm lý để có thể sử dụng trong những trường hợp cần thiết sau này. 2. Ai có thể làm nhà tham vấn học đường? Như đã nhìn thấy trong lịch sử phát triển của ngành, tham vấn học đường là một chuyên ngành và là một nghề nghiệp trong xã hội, do đó luôn có những yêu cầu và điều kiện nhất định để một người có thể tham gia hành nghề. Trong bối cảnh Việt Nam, chưa có một chương trình đào tạo chính thức và đầy đủ cho nghề tham vấn học đường, chưa có các tổ chức nghề nghiệp của những người làm tham vấn học đường và chưa có những chính sách cũng như tiêu chuẩn của quốc gia cho hoạt động tham vấn học đường, việc đặt ra tiêu chuẩn cho những người làm tham vấn học đường là một vấn đề hết sức khó khăn. Những điều kiện dành cho người muốn làm tham vấn học đường có thể được trình bày như sau o Với những giáo viên chuyên trách hoặc những người làm công tác Đoàn – Hội trong các trường học được “đặc cách” làm tham vấn học đường Nhất thiết phải được đào tạo thêm về căn bản tâm lý học tập trung sâu vào hai học phần Tâm lý học Phát triển và Tâm lý học Nhân cách, đào tạo về kỹ năng tham vấn và những yêu cầu cho việc làm tham vấn học đường. Việc đào tạo có thể được triển khai với sự phối hợp của Sở Giáo dục – Đào tạo các địa phương và Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục hoặc các trường Đại học có đào tạo về tâm lý học. o Với những người đã tốt nghiệp ngành tâm lý học Phải được đào tạo nhằm bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng và những yêu cầu khác cho việc làm tham vấn tâm lý học đường. Nơi đào tạo cũng là những đơn vị được đề cập trong gợi ý trên. o Ngoài kiến thức và kỹ năng chuyên môn, tất cả những ai làm tham vấn học đường đều phải được đào tạo và hướng dẫn để tuân giữ những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức được quy định cho những nhà tham vấn tâm lý và tham vấn tâm lý học đường. 3. Vấn đề phát triển Các cơ quan liên quan thuộc chính phủ phải quan tâm và trực tiếp hoặc giao cho một đơn vị có khả năng nghiên cứu và giới thiệu các tiêu chuẩn và hướng dẫn cần thiết cho việc triển khai các chương trình tham vấn học đường. Phải đảm bảo người làm tham vấn học đường được xem là một nghề và có quy chế về việc hưởng lương của trường học, đồng thời chịu trách nhiệm về chuyên môn với một tổ chức nghề nghiệp. Các trường học nghiên cứu để đưa chương trình tham vấn học đường chính thức vào trong những hoạt động của nhà trường, quy định về sự phối hợp và những vấnđề liên quan giữa nhà trường, giáo viên, phụ huynh, học sinh với nhà tham vấn. Đồng thời cũng triển khai các hoạt động nhằm giới thiệu tính cần thiết và giá trị của tham vấn học đường đến học sinh, phụ huynh và giáo viên, để khi học sinh gặp những vấn đề khó khăn, nhà tham vấn học đường có thể tiếp cận được nhanh nhất và qua đó có thể hỗ trợ kịp thời. Các trường Đại học, Viện khoa học… nghiên cứu và soạn thảo chương trình đào tạo tham vấn học đường, ngắn hạn và dài hạn, trên cơ sở tham khảo các chương trình đào tạo của các trường Đại học trên thế giới để đảm bảo có được một chương trình chất lượng, chuyên nghiệp và đầy đủ. Sau cùng, những người đang hoặc muốn làm nhà tham vấn học đường, cần ý thức rõ ràng nhiệm vụ và giá trị của nghề nghiệp nhằm tạo động lực cho chính bản thân trong việc tìm kiếm thông tin, tự đào tạo và sẵn sàng tham gia các hoạt động mang tính chất phát triển nghề nghiệp. Nguồn TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC HỌC ĐƯỜNG đề tài tham vấn hướng nghiệp Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây KB, 47 trang ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN—-—– TIỂU LUẬN GIỮA KỲMÔN TÂM LÝ HỌC HỌC ĐƯỜNGGiảng viên hướng dẫn TS. Nguyễn Bá ĐạtNhóm thực hiệnHoàng Thùy Linh-18032056Đặng Thị Hồng Hải-18032027Hoàng Thị Hoài Hường-18032047Nguyễn Đức Quyết-18032098 Hà Nội, tháng 11 năm 2021 1 Mục lụcA. Lý thuyết về tham vấn hướng nghiệp …………………………………………………… 3I. Thực trạng của hoạt động tham vấn hướng nghiệp ……………………………… 31. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở trên thế giới ………………………… 32. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở Việt Nam …………………………….. 6II. Quan điểm lý thuyết và mơ hình hướng nghiệp ………………………………… 111. Phân loại dựa trên nhân cách………………………………………………………… 112. Phân loại dựa trên quá trình phát triển …………………………………………. 163. Phân loại dựa trên quá trình xử lí thơng tin và ra quyết định ………….. 19III. Nội dung được thực hiện trong tham vấn hướng nghiệp ………………….. 221. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện quy trình hoạt động tham vấn hướngnghiệp …………………………………………………………………………………………….. 222 Quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp và hiệu quả của quy trình hoạt động tham vấn …………………………………………………………………………. 24IV. Một số phương pháp và sử dụng trong tham vấn hướng nghiệp ……….. 331. Phương pháp “Sáu chiếc mũ tư duy” …………………………………………….. 332. Mô hình Ikigai ……………………………………………………………………………… 403. Bảng Kiểm kê Nhân cách Eysenck…………………………………………………. 414. Bảng kiểm kê Big Five ………………………………………………………………….. 425. Trắc nghiệm Holland ……………………………………………………………………. 42V. Danh mục tài liệu tham khảo ………………………………………………………….. 44 2 A. Lý thuyết về tham vấn hướng nghiệpNghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Đặc biệtđối với học sinh, việc lựa chọn nghề nghiệp theo năng lực, theo tính cách và nhu cầucủa xã hội là điều rất cần quan tâm. Vậy nên, việc triển khai cơng tác hướng nghiệpnói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng là cực kỳ cần thiết. Bởi lẽ thực trạngcho thấy công tác tham vấn hướng nghiệp cho học sinh tại Việt Nam còn rất hạnchế. Trong khi nhu cầu được tham vấn định hướng nghề nghiệp của học sinh đượcthể hiện rất rõ. Theo quyết định phê duyệt Số 522/QĐ-TTg ngày 14 tháng 5 năm2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Đề án “Giáo dục hướng nghiệp vàđịnh hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025”đã chỉ ra rất rõ cần nâng cao nhận thức về cơng tác giáo dục hướng nghiệp, cần cósự đổi mới cũng như xây dựng, mở rộng hơn nữa công tác giáo dục hướng nghiệpvà định hướng phân luồng học sinh phổ thông vào chủ trương, kế hoạch chỉ đạo pháttriển kinh tế – xã hội của từng địa tác định hướng nghề nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang được quan tâmnhiều hơn và được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như thơng qua hoạt độngdạy các môn khoa học cơ bản, môn công nghệ; thông qua hoạt động ngoại khóa;thơng qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp chính khóa; thơng qua sinh hoạt hướng nghiệp. Tất cả các hoạt động nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bảnnhất liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp. Tuy nhiên những khó khăn nhữngkhúc mắc ẩn sâu bên trong học sinh lại chưa được khai thác kỹ lưỡng và giải quyếttriệt để. Bởi vậy tham vấn hướng nghiệp dường như là một lựa chọn hiệu quả để giảiquyết vấn đề Thực trạng của hoạt động tham vấn hướng nghiệp1. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở trên thế giớiTham vấn hướng nghiệp xuất hiện ở các nước trên thế giới từ cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20. Có rất nhiều những nghiên cứu được thực hiện với đa dạng đối tượng3 như đối tượng ngồi trường phổ thơng những người thất nghiệp, sinh viên mongmuốn tìm việc làm.. , đối tượng học sinh trường phổ với học sinh phổ thông, các tác giả thực hiện nghiên cứu trước đó bao gồmSchmidt, 1996; Roger D. Herring 1998; Vernon 2002 tiến hànhnghiên cứu và đưa ra các nội dung vai trị của tham vấn viên; mục tiêu, hình thức,phương pháp định hướng nghề và tham vấn hướng nghiệp cho HS từ cấp tiểu họcđến THPT; cung cấp dịch vụ nghề nghiệp cho học sinh; xác định vấn đề liên quanđến đánh giá nói chung của giáo dục nghề và tham vấn hướng chung, các nước trên thế giới đã có những mơ hình giáo dục hướng nghiệptích cực, cụ thể. Ở nhiều nước phát triển, có điều kiện về nhiều mặt, lại có điểm xuấtphát từ khá sớm như tại châu Âu như Pháp, Thuỵ Sĩ, Bỉ, áo, Đức, ý, Tây Ban Nha,Bồ Đào Nha, các nước khác ở Bắc Âu hay ở bắc Mỹ như Hoa Kỳ vàCanada, ở châu Úc và châu Đại Dương như Australia và New Zealand và nhiềunơi khác ở châu Mỹ La-tinh, ngay ở châu Phi, nhất là Bắc Phi và cộng hoà Nam Phi,hệ thống hướng nghiệp học đường và nghề nghiệp, từ giáo dục cho đến tư vấn đã cónhững bước tiến nhất định. Bên cạnh đó, cơng tác hướng nghiệp dành cho học sinhtrung học, phổ thơng cịn được mở rộng đa dạng và xuất hiện từ sớm ở một số nướcĐông Nam Á như Singapore, Malaysia; những nước phát triển ở Châu Á như Hồng Kông, Nhật Bản,.. Những nội dung hướng nghiệp đa dạng được thực hiện từ sớm,với những mơ hình thực hiện cơng tác hướng nghiệp một cách triệt để, phù hợp vớiđặc điểm văn hóa riêng. Nội dung giáo dục hướng nghiệp bao gồm nhiều hoạt động,trong đó tham vấn hướng nghiệp là một trong số những hoạt động đó, việc chunsâu thực hiện hình thức tham vấn chưa phải là xuất hiện ở tất cả các nước mà phầnlớn là thực hiện kết hợp nhiều hoạt động hướng nghiệp, kết hợp giữa tư vấn hướngnghiệp và tham vấn hướng nghiệp. Tuy nhiên, công tác tham vấn và tư vấn hướngnghiệp đều có sự phát triển. Các em học sinh được khuyến khích tự tìm hiểu về bảnthân, thị trường nghề nghiệp để có thể lựa chọn ngành phù hợp với năng lực, sở thíchvà định hướng tương lai. Học sinh có băn khoăn về nghề nghiệp đều có thể tìm đếnphịng hỗ trợ hướng nghiệp để được tham vấn, tư vấn Tại Hoa Kỳ, nhà tham vấn học đường ở các trường trung học cơ sở và trunghọc phổ thông đáp ứng nhu cầu của học sinh ở ba lĩnh vực cơ bản sau phát triểnhọc tập, phát triển hướng nghiệp và phát triển cá nhân/xã hội. Đồng thời có tráchnhiệm tham vấn và hướng dẫn học sinh các khía cạnh khác nhau của các vấn đề hoặcquyết định liên quan đến học tập và nghề nghiệp. Về hướng nghiệp, nhà tham vấnhọc đường được yêu cầu cung cấp cơ sở để thu thập kiến thức, thái độ và kỹ nănggiúp học sinh chuyển đổi thành công vào thị trường lao động cũng như từ công việcnày sang công việc khác trong suốt cuộc đời của họ. Các chương trình tham vấn họcđường đóng một vai trị quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh chuyển tiếpthành công sang cấp học tiếp theo hoặc gia nhập lực lượng lao động Feller 2003.Ở nhiều nước, trường học có hai văn phịng tham vấn riêng biệt văn phòngtham vấn tâm lý và văn phịng tham vấn hướng nghiệp, ví dụ như mơ hình tham vấnhọc đường gồm cả văn phịng tham vấn tâm lý và văn phòng tham vấn hướng nghiệpcủa Mỹ Dahir, 2001, Nhật Bản Yagi, 2010, Châu Úc Galliott & Graham,2015. Điều đó cho thấy, nghiên cứu cũng như thực hiện hình thức tham vấn hướngnghiệp nhìn chung đã xuất hiện trên thế giới từ sớm và ngày càng đa dạng hóa hơn tham vấn học đường cũng như lĩnh vực tham vấn học đường vốn dĩ có sựphát triển từ lâu ở các nước trên thế giới. Mà theo đó, nhà tham vấn học đường cóvai trị quan trọng thực hiện nhiều vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong đó có tham vấnhướng nghiệp và địi hỏi cần được đào tạo không chỉ năng lực, kiến thức chuyênmôn về tham vấn nói chung mà cịn là những kiến thức xoay quanh vấn đề hướngnghiệp cho học sinh. Những nghiên cứu thực tại trên thế giới là cơ sở quan trọng đểViệt Nam có thể học hỏi và tiến hành nghiên cứu chuyên sâu thực trạng tham vấnhướng nghiệp tại Việt Nam và từ đó phát triển, mở rộng hình thức tham vấn hướngnghiệp, áp dụng linh hoạt đối với các vùng miền. 5 2. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở Việt Nam a. Thực trạng hoạt động tham vấn hướng nghiệp, nguồn nhân lực tham vấn hướng nghiệpCác nỗ lực nghiên cứu về tham vấn hướng nghiệp hiện nay ở Việt Nam tậptrung vào thực trạng nhu cầu cũng như hiệu quả tham vấn. Những nghiên cứu tiêubiểu có thể thấy bao gồm Nguyễn Kim Quý 2007, Nguyễn Thị Việt Thắng 2008;Nguyễn Thị Nhân Ái 2011, Nguyễn Mộng Đóa 2011, đưa ra tầm quan trọng củatham vấn hướng nghiệp, những lý thuyết cũng như thực nghiệm công cụ được sửdụng trong tham vấn hướng nghiệp. Những nỗ lực nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổngquan nhất về thực trạng và tính cấp thiết của việc mở rộng, phát triển hình thức tham vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT, cũng như những thiếu sót và nhiều vấn đềcần nghiên cứu niệm giữa tham vấn và tư vấn hướng nghiệp tại Việt Nam dường như vẫnchưa có sự phân tách rạch rịi, có những điểm giống và khác nhau. Nhìn chung thamvấn nói chung và tham vấn hướng nghiệp còn rất mới mẻ tại Việt Nam, do đó thamvấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông chưa thực sự phổ biến, và trongcuộc sống khi nói đến tham vấn hướng nghiệp, mọi người vẫn nghĩ rằng đây là mộthình thức tương tự tư vấn nghề hoặc là tư vấn về thực trạng của việc thành lập văn phòng tham vấn, tham vấn hướngnghiệp, Trường THCS và THPT Đinh Thiện Lý, thuộc Tập đoàn Lawrence Sting,có hai văn phịng tham vấn riêng Hồng, Sơn, My & Lộc, 2018. Trong hệ thốnggiáo dục công lập, các trường công lập từ tiểu học đến đại học ở Việt Nam chỉ cómột phịng tham vấn và một hoặc hai chuyên gia đảm nhiệm cả chức năng tham vấntâm lý và tham vấn hướng nghiệpHồng, Sơn, My & Lộc, 2018. Nhân lực thiếuthốn khiến nhiều trường, giáo viên chủ nhiệm đảm nhiệm vai trò của nhà tham vấnhướng nghiệp. Thiếu nhân lực trong công tác hướng nghiệp cả về chất lượng và sốlượng là hiện tượng phổ biến ở hầu hết các trường phổ thông Việt Nam ChâuNguyễn, 2013. Bên cạnh đó, ở một số trường trung học phổ thông Việt Nam, việc6 các giáo viên chủ nhiệm lớp 11 hoặc 12 cũng phụ trách cơng việc định hướng nghềnghiệp. Phú, 2007.Điều đó đặt ra vấn đề rằng có hay khơng việc cần nâng cao tính cấp thiết củavấn đề đào tạo một cách chuyên sâu cho nhà tham vấn hướng nghiệp, đảm bảo nhàtham vấn hướng nghiệp cần có những kiến thức, kỹ năng linh hoạt liên quan đến lĩnhvực nghề nghiệp để hỗ trợ học sinh. Hướng nghiệp cũng như tham vấn hướng nghiệpđược xem như là công việc cần được thực hiện như với việc giảng dạy trên lớp. Khigiáo viên đảm nhiệm vai trò hướng nghiệp cho học sinh, đặt ra nhiều nỗi lo ngại vềnhững rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong cơng tác lựa chọn nghề nghiệp của học sinh khi bản thân người giáo viên khơng có những kiến thức chun sâu, rõ ràng, đầy đủvề cơng tác hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói đó, học sinh gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thơng tin cần thiết về thực trạngviệc làm, thiếu sự đánh giá bản thân có phù hợp với ngành nghề mong muốn haykhông để đưa ra quyết định lựa chọn nghề đúng đắn. Do đó, học sinh rất dễ lựa chọnsai nghề nghiệp, không phù hợp với sở thích, tính cách, giá trị của bản thân. Rồi cácem lại bắt đầu lại từ đầu hoặc thậm chí cứ để mọi thứ diễn ra không như ý trạng công tác hướng nghiệp, tham vấn hướng nghiệp hiện nay khơng có hệthống, thiếu sự chun nghiệp, chưa có sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, đi sâu vàovấn đề thực trạng, nhu cầu tham vấn hướng nghiệp của học thể thấy, tham vấn hướng nghiệp nói riêng tại Việt Nam cũng như tâm lýhọc đường nói chung chưa đáp ứng được những yêu cầu cần thiết của công tác thamvấn hướng nghiệp cho học sinh THPT. Theo số liệu của Ngun 2017, tồn khuvực phía Nam, số lượng nhà tham vấn học đường chuyên nghiệp năm học 2017 2018 là 1,09 người / trường, số văn phòng tham vấn hiện có chỉ chiếm 35,8% tổngdiện tích. Bên cạnh đó sự thiếu hụt nhân lực được đào tạo chuyên sâu liên quan đếnnghề nghiệp gây ra áp lực không hề nhỏ đối với ngành Tâm lý học học đường. Hiệntại, khi nhóm chúng tơi tìm kiếm về các chương trình đào tạo về tâm lý học họcđường, thì có một số nơi cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn, tuy nhiên như vậy khómà cung cấp được đầy đủ kiến thức chuyên sâu cần thiết cho việc thực hiện tham7 vấn hướng nghiệp. Về cung cấp bằng cử nhân đại học, tức là có đào tạo chun sâuhơn, thì hiện mới chỉ có trường Đại học Giáo dục thực hiện đào tạo Cử nhân Tâm lýhọc học đường, bắt đầu từ năm 2019b. Thực trạng nhu cầu tham vấn hướng nghiệp, lựa chọn nghề của họcsinhHọc sinh THPT hiện nay gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp,đặc biệt là khó khăn khi tự nhận thức, đánh giá năng lực, tính cách, hứng thú, sởthích nghề nghiệp cũng như biết được những yêu cầu, đặc điểm của nghề. Bên cạnh những nguồn lực trợ giúp các em như giáo viên, gia đình, bạn bè,.. thì các em cũngcó nhu cầu được tham vấn hướng nghiệp bởi người có chuyên môn liên quan đếntham vấn hướng nghiệpNghiên cứu về thực trạng lựa chọn nghề của học sinh THPT trên địa bàn HàNội, Nguyễn Thị Nhân Ái ĐH Sư Phạm Hà Nội, 2011 chỉ ra1. Học sinh thường chọn nghề theo cảm tính, thiếu sự cân nhắc Một trong nhữngkhó khăn chủ yếu ở HS là thiếu thông tin về thế giới nghề nghiệp 83,43%,thị trường lao động 78,5%, hiểu biết về nghề 73,33%, khả năng đánh giávề năng lực cũng như các phẩm chất của bản thân 70,5%2. Định hướng giá trị nghề ở học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn từ định hướng giátrị cuộc sống và quan điểm sống của các em Trải qua quá trình phát triển, cácem có sự nhận thức về đặc điểm phát triển của ngành nghề qua nhiều nguồnthông tin khác nhau, giá trị định hướng mang tính chất nền tảng rất đa dạngnhư gia đình, tình cảm, mục đích sống, sự giàu sang,..3. Lựa chọn trường trước khi lựa chọn nghề là đặc điểm nổi bật ở học sinh Địnhhướng ngành nghề các em nhận được phần lớn là việc lựa chọn nghề theotrường, xu hướng tìm kiếm trường học thuộc top chất lượng, hay thuộc topđiểm đầu vào thấp,… mà không biết được nhu cầu, năng lực của bản thân làgì. 8 Bên cạnh thực trạng lựa chọn nghề, thực trạng yếu tố chi phối đến quyết địnhchọn nghề cũng đáng được quan tâm. Cả yếu tố chủ quan, và yếu tố khách quan đềucó tác động rất lớn đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp của học sinh. Những yếutố khách quan bên ngồi có thể kể đến đó là yếu tố hướng nghiệp trong nhà trường;yếu tố gia đình; yếu tố nhu cầu xã hội; yếu tố nhóm bạn bè. Yếu tố bên trong thuộcvề bản thân học sinh có thể kể đến yếu tố động cơ nghề nghiệp; yếu tố định hướnggiá trị nghề nghiệp. Học sinh có nhu cầu cao trong việc khám phá nghề nghiệp phù hợp với tính cách, năng lực, sở thích của bản thân nhưng nhiều học sinh khơng đượclựa chọn ngành nghề mình u thích do áp lực và kỳ vọng từ phía gia đìnhZellweger, Sieger & Halter, 2011. Sự kết hợp giữa nhu cầu của học sinh, nhu cầuxã hội và sự kỳ vọng từ gia đình cần phải được nghiên cứu và cân Thị Hoa Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, 2014 với đề tài nghiêncứu “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực hà nội quatham vấn nghề” chỉ ra thực trạng lựa chọn nghề của học sinh THPT hiện nay, cụ thểtại địa bàn Hà Nội cho thấy đa số học sinh 60,11% khơng đưa ra được lí do chọnnghề. Số học sinh cịn lại thì các em chọn nghề theo sở thích chiếm tỉ lệ cao nhất19,13%, sau đó chọn nghề phù hợp với khả năng 7,10%; Do gia đình định hướng4,55%,… và các lí do khác Nghề được mọi người trọng vọng; nghề nổi tiếng; nghềcó cơ hội thăng tiến…. thậm chí lựa chọn theo cảm tính của học sinh. Đồng thời, họcsinh đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp thơng qua mơn học, hoạt động ngoạikhóa, thơng qua quá trình trao đổi với các tổ chức hướng nghiệp,.. đặc biệt là thôngqua tham vấn hướng nghiệp ở mức thấp. Giáo viên có sự đánh giá cơng tác tham vấnhướng nghiệp thường xuyên, trên thực tế giáo viên có sự giải đáp thắc mắc mỗi khihọc sinh tìm đến, nhưng giáo viên hầu hết đã không hiểu rõ về bản chất tham vấnhướng nghiệp, mà chỉ có hiệu quả cao trong việc giải tỏa những căng thẳng của họcsinh bởi học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chọn vậy, thơng qua nghiên cứu trên, hình thức tham vấn hướng nghiệp cũngđã được giáo viên thực hiện cũng như phản ánh nhu cầu thực tế của các em học sinhmong muốn có được sự trợ giúp trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp. Tham vấn9 hướng nghiệp dường như đã cho thấy được sự cần thiết của nó trong việc giải quyếtkhó khăn sâu bên trong của học sinh, bởi thực tế học sinh tìm đến giáo viên như làmột lựa chọn tối ưu để được giải đáp trực tiếp những khúc mắc của bản thân. Tuynhiên, tham vấn hướng nghiệp chưa được thực hiện theo đúng bản chất của nó. Điềuđó cho thấy thực trạng cũng như nhu cầu cần thiết có nhà tham vấn học đường nói chung, tham vấn hướng nghiệp nói riêng trong trường cứu của Giang Thiên Vũ và cộng sự Tạp chí giáo dục kỹ thuật và đàotạo Malaysia, 2020 chỉ ra rằng có một số lượng đáng kể học sinh gặp khó khăn liênquan đến định hướng nghề nghiệp và tham vấn hướng nghiệp. Và học sinh gặp phảicàng nhiều vấn đề liên quan đến định hướng nghề nghiệp thì càng cần được thamvấn để tìm ra nghề nghiệp phù hợp cho mình. Nghiên cứu chỉ ra thêm, trong việc lựachọn nghề nghiệp, lượng học sinh nữ tìm đến nhà tham vấn học đường nhiều hơn sovới học sinh nam. Một nghiên cứu về mơ hình tư vấn học đường trong trường họcViệt Nam của Giang, Nguyên và Mai 2017 chỉ ra rằng số liệu từ văn phòng thamvấn trường học tư thục nhận được ít nhất 120 trường hợp mỗi năm, trong đó nữchiếm 78%. Từ những dữ liệu nghiên cứu đó, giúp các nhà tham vấn học đường thựchiện mơ hình tham vấn hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm tâm lý với đặc điểmgiới tính của học chung, các em cịn gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn nghề,và đánh giá năng lực bản thân cịn hạn chế, các em khơng biết bản thân thích gì,điểm mạnh là gì. Một cuộc thăm dò của Falmi Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lựcvà Thông tin thị trường lao động, thuộc Sở LĐTBXH mới đây cho thấycứ 4 học sinh đăng kí thi Đại học, Cao đẳng thì có 3 em khơng hiểu gì về ngành nghềmình chọn.Theo Báo Tuổi trẻ online, 2014. Bởi vậy, tham vấn hướng nghiệp cónhiệm vụ quan trọng với mục tiêu giúp học sinh có thể tự giải quyết những khó khănđể từ đó có quyết định lựa chọn nghề phù hợp nhà tham vấn có vai trò giúp các emhọc sinh tự khám phá bản thân, tìm hiểu về hiện trạng phát triển của nghề, về hệthống trường đào tạo trên cơ sở đó các em tự đưa ra quyết định của mình. Đặc biệttrong thời kỳ chuyển đổi số, có tác động đến mọi ngành trong trong xã hội việc thì10 cơng tác hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng là quan trọnghơn bao giờ hết để học sinh có thể nắm bắt được đầy đủ, rõ ràng thông tin về nhucầu của xã hội, ngành nghề nào thịnh hành, cung cấp cơ hội việc làm tốt; cơ sở đào tạo nào phù hợp với năng lực, sở thích của học sinh để từ đó đưa ra lựa chọn phùhợp Quan điểm lý thuyết và mơ hình hướng nghiệpCác lí thuyết về hướng nghiệp cung cấp những hướng dẫn cho nhà tham vấntrong quá trình hỗ trợ thân chủ về hướng nghiệp, trong đó có 3 cách thức phân loạicơ bán nhất về tham vấn hướng nghiệp phân loại dựa trên đặc điểm nhân cách, phânloại dựa trên giai đoạn phát triển của con người và phân loại dựa trên q trình xử líthơng tin và ra quyết định. Liên quan tới lý thuyết về phân loại nhân cách, ta cóThuyết đặc điểm và yếu tố trait and factor theories của Parsons, Thuyết lựa chọnnghề của Holland, và Thuyết nhu cầu của Ann Rose. Lý thuyết dựa trên giai đoạnphát triển, ta có Thuyết vịng đời, khơng gian sống Super’s life-span, life-spacetheory. Phân loại dựa trên quá trình xử lí thơng tin và ra quyết định, ta có Thuyếtvề mơ hình cá nhân hóa individualistic model, Thuyết học tập, và Thuyết về mơhình ra quyết định decision- making model.1. Phân loại dựa trên nhân cáchThuyết nét nhân cách và yếu tố của ParsonĐây là một thuyết xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển hướng nghiệpkhi được Parson giới thiệu vào đầu thế kỉ 20, và sau đó được phát triển bởi hình đầu tiên do Parson giới thiệu vào năm 1909 nhấn mạnh tầm quan trọng củaphân tích nhân cách’ nhằm mục đích thúc đẩy sự hiểu biết về cá nhân 2011. Thuyết nét nhân cách và thành tố dựa trên quan điểm thuyết về sựkhác biệt giữa các cá nhân, rằng mỗi cá nhân đều có những đặc điểm, nét nhân cáchriêng Nét nhân cách là một cấu trúc tâm-sinh lý không dễ bị phá hủy, được định vịtrong não và hệ thần kinh, S. M. Ahmad, 2011 và năng lực độc đáo, và chúng cóthể được đo lường. Đầu tiên, nhà tham vấn sẽ sử dụng các trắc nghiệm, thang đo tâmlý để phát hiện ra các đặc điểm nhân cách riêng biệt ở cá nhân. Đây được coi là việc11 làm cơ bản và quan trọng nhất Thắng, 2008 và thực sự trắc nghiệm, đánh giá về nhân cách rất phù hợp cho nhà tham vấn đưa ra lời khuyên về lựa chọn nghềnghiệp. Sau đó, nhà tham vấn sẽ hỗ trợ cá nhân tìm hiểu về nghề nghiệp, phân loạicông việc hiện tại trong thị trường lao động. Cuối cùng, từ các trắc nghiệm, nhữngđánh giá về năng lực, thái độ và nhu cầu của cá nhân, nhà tham vấn sẽ cùng với thânchủ kết hợp các đặc điểm này với ngành nghề phù hợp này, từ đó đưa ra gợi ý hỗ trợthân chủ lựa chọn ngành nghề họ cảm thấy phù hợp. Williamson đã phát triển thangđo đánh giá nghề nghiệp Minnesota Minnesota occupational rating Scale nhằmphục vụ cho việc đo lường và giúp trả lời cho câu hỏi rằng Với đặc điểm nhân cáchcủa tôi như vậy, tơi sẽ chọn nghề A, và chỉ có nghề A là phù hợp với tơi’ 2008.Tuy rằng có sự hỗ trợ của trắc nghiệm và thang đo tâm lý, nhà tham vấn thựcsự khó đưa ra câu trả lời chính xác cho câu hỏi của thân chủ Với đặc điểm của tôi,nhà tham vấn hãy cho biết tôi nên làm gì’. Cùng với đó, các yếu tố về năng lực, sởthích, nhu cầu, thậm chí là nét nhân cách, cũng có thể thay đổi theo thời gian, vậynên, việc đưa ra gợi ý về nghề nghiệp cần phải cân nhắc tới những sự thay đổi của Holland về lựa chọn nghềThuyết của Holland về lựa chọn nghề, hay còn được gọi là Thuyết phân loạiHolland Holland Typology Theory, là một lý thuyết được sử dụng rất phổ biến,dựa trên giả định rằng nhân cách của một cá nhân là yếu tố chính trong việc lựa chọnnghề nghiệp S. M. Ahmad, 2011 và đặc điểm nhân cách phải được xét trong mốiquan hệ thống nhất với nghề nghiệp Thắng, 2008. Cá nhân cùng với nhàtham vấn cần phải nhìn ra được mối liên hệ giữa kiểu nhân cách và đặc điểm nghềnghiệp cũng như môi trường làm việc, bởi, bên cạnh những yêu cầu đặc thù về đặcđiểm tính cách, tố chất tâm lý đáp ứng cho từng nghề, con người có xu hướng kếtthân với những người phù hợp với mình, như là những có cùng tính cách, hoặc cótính cách bù trừ hài hịa với họ, và từ đó sẽ chọn những cơng việc ở những nơi màhọ cảm thấy xung quanh mình là những người phù hợp với họ, cũng như tạo điềukiện để họ có thể thể hiện được cái tơi của mình, tạo cảm giác thoải mái khi làm việc Hà, 2009, Thắng, 2008.12 Holland đã đưa ra 6 kiểu nhân cách cơ bản Kiểu người thực tế Realistic,Kiểu người tìm tịi nghiên cứu Investigative, Kiểu người có tính nghệ thuật Artist,Kiểu người xã hội Social, Kiểu người dám nghĩ dám làm enterprising, Kiểu ngườiquy tắc Conventional, và cho rằng hầu hết các môi trường làm việc phù hợp vớicác loại nhân cách này, cũng như lưu ý rằng chúng hiếm khi xuất hiện dưới dạngthuần túy. Mô tả cụ thể về 6 kiểu nhân cách này và mơi trường phù hợp được trìnhbày trong bảng dưới Bảng kiểu nhân cách, đặc điểm và môi trường nghề nghiệp thích hợpKiểu Đặc điểm Mơi trường nghề nghiệp thích hợp nhâncáchThực tế   Lối tư duy thực tế, thẳng  Công việc liên quan tới xây dựng, thắn, thích sự tỉ mỉ. làm thợ, làm kĩ sư ví dụ phi cơng, u thích các hoạt động thể thợ máy, thợ mộc, kĩ sư đầu chất, các hoạt động có liên máy,… quan tới máy móc, dụng cụ,cấu trúc. Ưa thích cơng việc trựcquan, thực tế hơn là mangnhiều yếu tố trừu tượng Khám  phá  Luôn đặt câu hỏi Mọi việc  Môi trường nghiên cứu học thuật diễn ra như thế nào nhỉ? và nhà khoa học về toán, vật lí, xã tìm tịi câu trả lời hội,… Có định hướng cơng việc  rõ ràng, thích nghiên cứuhọc thuật và khoa học bác sĩ, dược sĩ 13 Công việc liên quan tới y dược Công việc kĩ sư  Giải quyết cơng việc với lốitư duy phân tích cụ thể,trừu tượng Nghệ  thuật Kiểu người nhạy cảm, dễ  xúc động, giàu trí tưởngtượng Các lĩnh vực nghệ thuật họa sĩ,nhạc sĩ, nhà văn,…  Các lĩnh vực liên quan tới sự sáng Có xu hướng thể hiện bản tạo và tính mỹ học thiết kế đồ họa, thân thơng qua các tác ẩm thực, nhà phê bình, thiết kế nội phẩm, cơng trình nghệ thất, giáo viên mỹ thuật,… thuật Đề cao tính mỹ học và sựsáng tạo Xã hội  Yêu thích tương tác xã hội  và thường có khả năng giaotiếp tốt, nhạy cảm với cảm  luyện viên Công việc liên quan tới phúc lợi xã xúc của người khác. hội nhà cơng tác xã hội, nhà hoạt Có xu hướng thực hiện các động xã hội, nhà trị liệu, người tư công việc hướng tới hỗ trợ vấn,… cộng đồng. Lĩnh vực giáo dục giáo viên, huấn  Truyền giáo  Vai trò lãnh đạo hiệu trưởng, Được cho là những ngườithân thiện, dễ mến. Dám  nghĩ,dám làm Nhiệt tình, năng động, cótham vọng,   giám đốc, … Có xu hướng mạo hiểm, thể  Vai trị quản lí và giám sát quản lí hiện sự thống trị và áp đặt . nhân sự, giám sát bán hàng, quản Có tài chính trị, dẫn dắt và lí đại lí… thể hiện ý tưởng.  Luật sư, thẩm phán, phát thanhviên,… 14 Quy tắc  u thích sự trật tự, tn  thủ xã hội Kế tốn, thủ quỹ, nhân viên nhàsách, thủ thư,… Thực hiện các công việc có  Logistic tính hệ thống, liên quan tới  Nhà hoạch định số liệu, kinh doanh Có khả năng tổ chức, lập kếhoạch Xuất phát từ lí thuyết của Holland, thang đo về Tự tìm kiếm định hướng nghềnghiệp Self-directed Search, SDS đã được ra đời, Bản kiểm kê Ưa thích nghềnghiệp Vocational Preference Inventory, VPI và Phân loại thẻ Card sort, Occ-USort được ra đời và phát nhu cầu của Ann Rose Need ApproachThuyết nhu cầu bắt nguồn từ phân tâm, nhấn mạnh rằng những trải nghiệmđầu đời có liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này của cá nhân,chúng đóng một vai trị quan trọng trong việc cá nhân tìm thấy sự thỏa mãn của mìnhtrong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ giúp mỗicá nhân thỏa mãn nhu cầu vô thức của bản thân mình. Lý thuyết của Roe có quanhệ chặt chẽ với thang nhu cầu của Maslow, trong đó những nhu cầu cơ bản của conngười cần phải được thỏa mãn trước khi thỏa mãn những nhu cầu bậc cao và việctìm kiếm nghề nghiệp nhằm thoả mãn một trong những nhu cầu cơ bản của conngười Thắng, 2008.Roe đã đưa ra 8 lĩnh vực nghề nghiệp occupational field đó là1 Dịch vụ service, 2 Kinh doanh business contact, 3 Ttổ chứcorganizations, 4 Công nghệ technology, 5 Làm việc ngồi trời outdoor, 6Khoa học science, 7 Văn hóa general cultural, 8 Nghệ thuật, giải trí art/entertainment.Đồng thời, Roe cũng đưa ra sáu mức độ nghề nghiệp đó là 15 1 Chuyên nghiệp và quản lý bậc I- những người này có trình độ chunmơn sâu, có khả năng quản lý, và quyết định của họ có ảnh hưởng quan trọng đếncông việc của những người khác.2 Chuyên nghiệp và quản lý bậc II- Những người này cũng có trình độchun mơn, có khả năng quản lý với quy mơ nhỏ hơn và các quyết định của họ cóảnh hưởng ở phạm vi nhỏ hơn.3 Bán chuyên nghiệp và kinh doanh nhỏ.4 Những người lao động có kỹ năng.5 Những người lao động bán kỹ năng.6 Những người lao động khơng có kỹ nghiên cứu Roe đã dẫn bà đến việc khám phá các phong cách làm chamẹ ảnh hưởng đến tính thứ bậc của nhu cầu và các mối quan hệ của các nhu cầu nàyvới các phong cách sống sau này khi người đó trưởng thành. Roe tuyên bố rằngnhững tương tác khác nhau giữa cha mẹ và con cái dẫn đến những lựa chọn nghềkhác nhau Hà, 2009. Bà cũng đưa ra ba mẫu hình cha mẹ Những người quábảo vệ con overprotective, những người lảng tránh avoidant, và những ngườichấp nhận acceptant. Việc dạy dỗ các con và kỹ năng làm cha mẹ có ảnh hưởngđến sự phát triển nhân cách của trẻ, và sự ảnh hưởng đó thể hiện đứa trẻ có hướngtới con người hay không hướng tới con người. Xuất phát từ lý thuyết của Roe, cómột cơng cụ được phát triển và sử dụng rộng rãi trong tư vấn hướng nghiệp là Hệthống hướng nghiệp Career Occupational Preference System Thắng, 2008.2. Phân loại dựa trên quá trình phát triểnTất cả các lý thuyết về quá trình phát triển đều tập trung tìm hiểu các giai đoạnthay đổi trong cuộc sống con người, và ảnh hưởng của những thay đổi trong các giai đoạn phát triển của con người đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp. Việc lựa chọnnghề nghiệp kéo dài và có khả năng thay đổi, chứ khơng chỉ là một quyết định duynhất được tiếp nhận trong một thời gian cụ thể trong cuộc đời mỗi con thuyết của GinzbergTheo Ginzberg thì việc phát triển nghề nghiệp có ba giai đoạn chính 200816  Giai đoạn yêu thích tưởng tượng – fantasy, kéo dài đến 11 tuổi. Trongsuốt giai đoạn này, trị chơi có ảnh hưởng rất lớn đến việc dần dần hìnhthành xu hướng nghề và hoạt động này phản ánh những sở thích banđầu về các loại hoạt động khác nhau. Thơng qua trò chơi sắm vai vaitrò xã hội – vai nghề cá nhân có những đánh giá có giá trị ban đầu vềthế giới nghề.  Giai đoạn thăm dò chú ý, tập trung từ 11 tuổi đến 17 tuổi, đây là giaiđoạn mà khả năng và mối quan tâm của cá nhân cần được kiểm kỳ thăm dò được chia làm 4 giai đoạn. Trước tiên là giai đoạnhứng thú, trong suốt giai đoạn này cá nhân đưa ra những quyết địnhliên quan đến sở thích và khơng thích. Tiếp đến là giai đoạn khả năngđược nhận thức về năng lực của một người khi liên quan đến nhữngmong muốn về nghề. Thứ ba là giai đoạn giá trị, lúc này những nhậnthức về kiểu nghề xuất hiện một cách rõ ràng hơn. Trong giai đoạn cuốicùng, giai đoạn chuyển dịch cá nhân nhận thức về quyết định lựa chọnnghề và tiếp theo là những trách nhiệm đi cùng với lựa chọn nghề.  Giai đoạn thực tế, từ 17 đến 20 tuổi. Ở giai đoạn này, những sự lựa chọnđược đưa ra dựa trên sự cân nhắc về khả năng, nhu cầu. Giai đoạn thựctế được chia làm 3 giai đoạn nhỏ. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn khámphá. Trong suốt giai đoạn này, cá nhân thu hẹp lựa chọn nghề trong từ2 hoặc 3 khả năng, nhưng nhìn chung ở giai đoạn này xuất hiện mâuthuẫn trong tư tưởng và do dự. Tuy nhiên, trọng tâm nghề có phạm vihẹp hơn. Trong giai đoạn thứ 2 gọi là giai đoạn kết tinh, cam kết phạmvi nghề chuyên biệt được hình thành. Giai đoạn cuối cùng là sự địnhhướng rõ ràng, ở giai đoạn này cá nhân chọn nghề hoặc được đào tạonghề cụ thể. Ginzberg cho rằng quá trình lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình mở vàkéo dài suốt đời, việc thay đổi nghề nghiệp có thể diễn ra bất cứ lúc nào trong thuyết của Gottfredson17 Lý thuyết của Gottfredson được gọi là lý thuyết điều kiện và thoả hiệp. có bốngiaiđoạn chính trong phát triển nghề nghiệp Thắng, 20081 Giai đoạn định hướng về khả năng và giới hạn từ 3 đến 5 tuổi.2 Giai đoạn định hướng về vai trò giới từ 6 đến 8 tuổi.3 Giai đoạn định hướng các giá trị xã hội, từ 9-13 tuổi,4 Giai đoạn định hướng cho bản thân với những đặc điểm và giá trịduy nhất, từ 14 tuổi trở qua q trình phát triển nghề nghiệp, mỗi cá nhân sẽ cân nhắc trước các điều kiện của chính bản thân, sau đó lựa chọn một số nghề nghiệp trong khnkhổ có thể chấp nhận được thơng qua q trình thỏa hiệp. Những tưởng tượng vềnghề nghiệp sẽ giúp cho cá nhân hiểu được về những loại nghề nghiệp, từ đó điềuchỉnh, xây dựng một cái tơi có tính tương đối và điều này dẫn đến việc tìm đượcnhững loại nghề nghiệp mong ước và thỏa hiệp để lựa chọn được những nghề nghiệpphù phát triển nghề nghiệp và cuộc sống của Super Super CareerDevelopment TheorySuper không nhấn mạnh khái niệm lựa chọn nghề nghiệp mà tập trung nhấnmạnh khái niệm phát triển nghề nghiệp dựa trên sự tự nhận thức của cá nhân. Sự tựnhận thức về nghề nghiệp của cá nhân cho thấy sự đánh giá của cá nhân đối vớichính bản thân mình. Bản thân cá nhân là người hiểu về chính bản thân họ, tự đánhgiá và hành động theo những năng lực và nỗ lực của bản thân họ S. M. Ahmad,2011.Theo Super, có 5 giai đoạn phát triển nghề nghiệp Thắng, 2008, đó là 1 Phát triển growth từ khi sinh ra đến lúc 14 tuổi, giai đoạn này mỗi cánhân phát triển khả năng, năng lực, hứng thú, nhu cầu.2 Giai đoạn khám phá exploration từ 15 đến 24 tuổi. Giai đoạn này việcmỗi cá nhân lựa chọn nghề nghiệp như thế nào đã được giới hạn lại, nhưng vẫn chưa 18 phải là giai đoạn lựa chọn cuối cùng. Trong đó, ở giai đoạn từ 14 đến 18 tuổi, mỗicá nhân phải thiết lập được cho mình những mục tiêu tổng quát về nghề nghiệp.3 Giai đoạn thiết lập establishment từ 24 đến 44 tuổi, ở giai đoạn này cánhân đã có những lựa chọn nghề nghiệp cho mình một cách bền vững, ổn định côngviệc và tạo dựng những kinh nghiệm làm việc. Cụ thể, trong giai đoạn từ 18 đến 21tuổi, mỗi cá nhân sẽ chuyển từ những chú ý của mình đến một số nghề nào đó sang việc lựa chọn nghề cụ thể, từ 21 đến 24 tuổi, cá nhân bắt đầu áp dụng những lựachọn của mình thơng qua việc hồn thiện những khóa đào tạo và bắt đầu vào làmnhững công việc cụ thể.4 Giai đọan duy trì maintenance, từ 44 đến 64 tuổi, đây là giai đoạn tiếptục điều chỉnh của mỗi cá nhân để hồn thiện cơng việc của bản thân mình.5 Giai đoạn giảm sút Decline, từ 65 tuổi trở lên, mỗi người đang xem xétviệc nghỉ hưu của mình, giảm cường độ làm giai đoạn này cũng có thể được chia thành a các pha tưởng tượng, dựkiến và thực tế của giai đoạn khám phá; b các pha thử nghiệm và ổn định của giaiđoạn thiết lập. Bên cạnh đó, Super cịn đưa ra mơ hình cầu vồng “rainbow”, một mơhình phổ biến trong cơng tác hướng nghiệp ứng với mỗi vòng, mỗi giai đoạn củacầu vồng, con người sẽ thực hiện những nhiệm vụ khác một khái niệm được đề cấp tới trong lí thuyết của Super, đó là trưởngthành nghề nghiệp career maturity – một cấu trúc mơ tả mức độ hồn thành củamột cá nhân đối với các nhiệm vụ phát triển nghề nghiệp khác nhau phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển trong suốt thời kì thanh thiếu niên. Để lượng giá mức độtrưởng thành nghề nghiệp và phát triển nghề nghiệp trong giai đoạn này, ta có thể sửdụng Bản kiểm kê sự phát triển nghề nghiệp Career Development Inventory, CDIvà Bản kiểm kê sự trưởng thành nghề nghiệp Career Maturity Inventory, CMI Ahmad, 2011.3. Phân loại dựa trên quá trình xử lí thơng tin và ra quyết địnhNhững người theo hướng này này tập trung vào cách thức mỗi cá nhân xử lýcác thơng tin sẵn có trong q trình ra quyết định nghề về mơ hình cá nhân hóa individualistic model19 Lý thuyết của về mơ hình cá nhân hóa của Tiedeman dựa trên luận điểm cơbản là việc cá nhân chọn lựa nghề nghiệp như thế nào luôn gắn với việc xác địnhbản sắc cái tơi của mình ego identity. Tiedeman đưa ra hai khái niệm và cũng là hai giai đoạn chính trong q trình lựa chọn và phát triển nghề nghiệp Giai đoạn mong đợi anticipation cá nhân tưởng tượng về hình ảnhbản thân trong những nghề nghiệp cụ thể. Giai đoạn này lại bao gồm 4pha nhỏ khám phá, đúc kết, lựa chọn, và làm rõ.  Giai đoạn áp dụng implementation cá nhân tham gia vào một cuộcthử nghiệm thực tế khi xem xét các mong đợi về nghề nghiệp. Giai đoạnnày cũng bao gồm 4 pha nhỏ quy nạp thơng tin, thay đổi, hợp nhất, vàduy trì. Tiedeman cho rằng, mỗi cá nhân hồn tồn có năng lực lựa chọn nghề nghiệpchobản thân mình, và điều này cũng giúp cho những người làm tư vấn hướng nghiệpkhông phải trả lời những câu hỏi như “Nhà tư vấn, hãy nói cho tơi, hãy quyết địnhcho tơi xem tơi nên làm gì”. Việc lựa chọn nghề nghiệp, tuy là một quá trình liên tụcvà có thể được diễn ra ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, nhưng mỗi cá nhânphải tự đưa ra những quyết định liên quan đến nghề nghiệp tại những thời điểm cụthể trong cuộc đời Thắng, 2008.Thuyết học tập Learning theoryNhững người đi theo quan điểm này chịu ảnh hưởng lớn của Bandura và lýthuyết học tập xã hội của ông. Theo thuyết học tập xã hội, quá trình phát triển nghềliên quan đến 4 yếu tố Khả năng bẩm sinh và những năng lực đặc biệt bao gồm những phẩmchất di truyền và những phẩm chất này có thể tạo nên những năng lực đặc biệt hoặc làm hạn chế các cơ hội nghề nghiệp của cá nhân.  Điều kiện môi trường và các sự kiện những yếu tố ảnh hưởng thườngvượt quá tầm kiểm soát cá nhân. Một vài sự kiện và hồn cảnh trongmơi trường của cá nhân ảnh hưởng đến các kỹ năng phát triển, các hoạtđộng, và các sở thích về  Kinh nghiệm học tập bao gồm các trải nghiệm học tập mang tính trựcquan và những trải nghiệm học tập liên kinh nghiệm học tập trực quan được hiểu là những kinhnghiệm mà các cá nhân học được từ quan sát trực tiếp các hànhđộng và thông qua tương tác với những người khác, ảnh hưởngtới kế hoạch và phát triển trải nghiệm học tập mang tính liên tưởng bao gồm nhữngtương tác tích cực và tiêu cực với các yếu tố trung gian, có ảnhhưởng đến nhận thức của cá nhân về các nghề này.  Kỹ năng giải quyết công việc Bao gồm các kỹ năng như các kỹ nănggiải quyết vấn đề, các thói quen làm việc, những xu hướng của trí tuệ,các trách nhiệm mang tính tình cảm và các trách nhiệm về mặt hìnhthức. Các kỹ năng này sẽ quy định kết quả của những vấn đề và nhữngnhiệm vụ mà cá nhân phải đối mặt. Mơ hình học tập xã hội nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kinh nghiệm cóđược thơng qua học tập và ảnh hưởng của chúng đến lựa chọn nghề. Hình thànhquyết định về nghề được xem là quá trình lâu dài và là kỹ năng quan trọng phải đượcdạy trong quá trình giáo dục và trong các chương trình tham vấn hướng nghiệp. Khidạy về các kỹ năng ra quyết định, các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nghề sẽ đượcnhấn yếu tố có ảnh hưởng đến những sở thích được giải thích trong mơ hìnhhọc tập xã hội là quá trình nhận thức, các tương tác trong môi trường, các đặc trưngvà đặc điểm nhân cách nổi trội. Yếu tố di truyền cũng có sự ảnh hưởng tới sở thíchở một mức độ nhất hình ra quyết định decision- making modelTheo Gelatt, việc lựa chọn nghề nghiệp có thể được xem là một hệ thống cóthể dự đốn được, và thơng tin đóng vai trị quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thốngnày. Hệ thống dự đốn trong q trình ra quyết định có thể phân ra theo ba tiêu chí,1 tiêu chí mang tính dự đốn predictive, 2 tiêu chí mang tính giá trị value 2, 21 và 3 tiêu chí mang tính quyết định decision. Gelatt gọi thông tin là năng lượngcủa các quyết định Trên đây chỉ là ba tiếp cận chính với một số lí thuyết cơ bản, tương đối phổbiến trong hoạt động hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng,và các mơ hình, cơng cụ kèm theo nhằm hỗ trợ cá nhân trong quá trình chọn nghề,phát triển nghề nghiệp. Thực tế, cịn rất nhiều những lí thuyết khác về hướng nghiệp,và có những lí thuyết khơng rơi vào bất kì cách tiếp cận nào ở trên, như Thuyết thểhiện nhu cầu needs-press theory của Murray, Lý thuyết trưởng thành nghề nghiệpcareer maturity của Crites III. Nội dung được thực hiện trong tham vấn hướng nghiệpTham vấn hướng nghiệp là một trong những con đường giáo dục hướngnghiệp quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn nghề của học sinh trên cơsở trợ giúp học sinh tự giải quyết được những khó khăn của bản thân, tự nhận thứcvà đánh giá bản thân, hiểu biết về ngành nghề, trường thi và khả năng ra quyết địnhchọn nghề phù hợp năng lực, tính cách, sở thích của cá nghiên cứu thì cũng cho thấy rằng, hiện nay tại các trường THPT cũngcó áp dụng tham vấn hướng nghiệp tới các học sinh, tuy nhiên bản chất của việc thựchiện này chưa phù hợp với bản chất đặc trưng của tham vấn hướng nghiệp. Chính vìvậy mà cần phải có một quy trình tham vấn hướng nghiệp vừa dựa trên mục tiêugiáo dục hướng nghiệp đồng thời xác định cách thức triển khai quy trình phù hợptheo những bước nhất định để giáo dục hướng nghiệp cho học Nguyên tắc xây dựng và thực hiện quy trình hoạt động tham vấn hướngnghiệpa. Nguyên tắc xây dựng quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp1 Quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp trong giáo dục hướng nghiệp đượcxây dựng trên cơ sở quy trình tham vấn tâm lý và quy trình tư vấn hướng Tham vấn hướng nghiệp là một loại của tham vấn tâm lý, vì vậy trong quátrình xây dựng quy trình tham vấn hướng nghiệp cần phải tuân thủ theo quy trìnhcủa tham vấn tâm lý tương tác với học sinh nhằm chia sẻ thấu hiểu, đồng cảm vớihọc sinh về các vấn đề liên quan đến lựa chọn ngành nghề cho tương lai, từ đó cóthể làm thay đổi nhận thức, quan niệm, thái độ, và sự lựa chọn ngành nghề của họcsinhMặt khác, tham vấn hướng nghiệp còn là một trong những con đường để giáodục hướng nghiệp vì vậy đây cũng được coi là một hình thức của giáo dục hướngnghiệp. Trong giáo dục hướng nghiệp có quy trình tham vấn hướng nghiệp vì vậy cần phải dựa trên quy trình tham vấn hướng nghiệp nhằm đảm bảo tính khoa học vàlogic của quy trình.2 Đảo bảo phù hợp với mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở THPTQuy trình tham vấn hướng nghiệp phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dụchướng nghiệp ở THPT, đó là trợ giúp học sinh tự phát hiện, tự giải quyết, tự đưa rađược quyết định chọn nghề cho bản thân. Sau khi thực hiện tham vấn hướng nghiệpcho học sinh cần đảm bản cho học sinh– Giải quyết được những khó khăn trong q trình chọn nghề– Có năng lực nhận thức và đánh giá bản thân khả năng, tính cách, sở thích,hứng thú của bản thân– Hiểu rõ được yêu cầu, đặc điểm của ngành nghề, trường thi– Có năng lực chọn nghề phù hợp3 Đảm bảo tính hiệu quả và khả thiQuy trình tham vấn hướng nghiệp đảm bảo cho giáo viên có thể vận dụngđược trong thực tiễn giáo dục hướng nghiệp ở THPT, giúp học sinh lựa chọn đượcngành nghề phù hợp hơn với năng lực, tính cách của học sinh, góp phần thực hiệntốt mục tiêu giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở Nguyên tắc thực hiện quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp23 1 Đảm bảo lợi ích của học sinh. Đảm bảo lợi ích của cả nhóm, đồng thờiđảm bảo lợi ích của từng cá nhân. Trong quá trình tham vấn thì phải luôn đặt họcsinh làm trọng tâm, đặc biệt đối với từng cá nhân học sinh vì có những khó khăn màcác em khơng thể nói ra với mọi người, nhà tham vấn cũng cần bảo mật những thôngtin của các học sinh.2 Tôn trọng và hợp tác với học sinh. Ở bất kỳ tình huống nào, giai đoạn nàothì nhà tham vấn hướng nghiệp đều phải tôn trọng học sinh, tôn trọng những ý kiến,suy nghĩ của các em trong quá trình chọn ngành nghề. Bởi mỗi một học sinh đều cónhững lý do, hồn cảnh, điều kiện riêng khi các em đưa ra những nhận định, suy nghĩ của bản thân. Vì vậy nhà tham vấn hướng nghiệp cần phải lưu ý về việc luôntôn trọng học sinh trong quá trình tham vấn để đạt được hiệu quả và tạo ra khônggian thỏa mái cho đôi bên.3 Linh hoạt mềm dẻo trong quá trình tham vấn. Nhà tham vấn cần phải linhhoạt tùy thuộc vào khả năng của học sinh. Học sinh đã đạt mức độ cao ở nội dungnào thì nhà tham vấn có thể bỏ qua và chuyển sang bước tiếp theo, và trong quá trìnhthực hiện các bước tiếp theo nếu như cần thiết phải quay lại bước trước thì nhà thamvấn cần linh hoạt thay đổi để quay trở lại bước trước đó. Có thể tham vấn nhómtrước và tham vấn cá nhân sau hoặc ngược lại, hoặc có thể làm song Quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp và hiệu quả của quy trình hoạtđộng tham vấna. Quy trình hoạt động tham vấn hướng nghiệp và cách thực hiệnTham vấn hướng nghiệp dựa trên cơ sở trợ giúp học sinh tự giải quyết nhữngkhó khăn của bản thân, tự nhận thức và đánh giá bản thân, hiểu biết về ngành nghềtrường thi và khả năng ra quyết định chọn nghề phù hợp năng lực, tính cách, sở thíchcủa cá trình hoạt động tham vấn 3 giai đoạn 11 bước được trình bày dưới đâyđược trích từ nghiên cứu của Trương Thị Hoa Luận án Tiến sỹ Khoa học Giáo dục,2014 với đề tài “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực24 Hà Nội qua tham vấn nghề” mang tính chất tham khảo để giúp người đọc hình dungđược quy trình của việc tham vấn hướng nghiệp và ở mỗi một trường hợp nhỏ cụ thểthì sẽ có những sự thay đổi trong các bước thực hiện để phù hợp với từng nhóm đoạn 1 Khảo sát tìm hiểu đặc điểm học sinhBước 1 Chuẩn bị– Chuẩn bị cho việc điều tra, khảo sát sơ bộ về học sinh có thể sử dụng cácphiếu điều tra, bộ công cụ trắc nghiệm, những câu hỏi phỏng vấn cha mẹ học sinh, giáo viên về học sinh, và các thông tin cần thiết khác.– Chuẩn bị cho việc thực hiện quá trình tham vấn Các điều kiện, phương tiệncần thiết cho quá trình tham vấn; hệ thống câu hỏi tham vấn; dự kiến các tình huống,vấn đề nảy sinh..Bước 2 Điều tra, khảo sát sơ bộ về học sinh– Mục tiêu điều tra, khảo sát sơ bộ đối với học sinh Tìm hiểu những thông tinvề học sinh nhằm hiểu rõ về nhu cầu, nguyện vọng, nhận thức nghề, sự lựa chọnnghề, những khó khăn của sinh viên để đưa ra hướng hỗ trợ– Nội dung cần điều tra, khảo sát sơ bộ chia làm ba nhóm đối tượngĐối với học sinh thơng tin cá nhân học lực, khối thi, gia đình, sức khỏe,trường thi, ngành nghề dự thi; tìm hiểu sơ bộ về năng lực, tính cách, của bản thân;Sở thích, nghề nghiệp; những khó khăn, mong muốn, nhu cầu của học sinh trongquá trình chọn với giáo viên sau khi trao đổi và có sự đồng ý của học sinh, nhà thamvấn trò chuyện với giáo viên về từng học sinh trong lớp nhằm tìm hiểu về tính cách,năng lực, năng khiếu, sở trường của các emĐối với cha mẹ học sinh Cần có sự đồng ý của học sinh trước khi trò chuyện,trao đổi với bố mẹ học sinh để tìm hiểu rõ hơn về học sinh, hiểu biết của cha mẹ 25 hoạt động giải trí tham vấn …………………………………………………………………………. 24IV. Một số chiêu thức và sử dụng trong tham vấn hướng nghiệp ……….. 331. Phương pháp “ Sáu chiếc mũ tư duy ” …………………………………………….. 332. Mô hình Ikigai ……………………………………………………………………………… 403. Bảng Kiểm kê Nhân cách Eysenck …………………………………………………. 414. Bảng kiểm kê Big Five ………………………………………………………………….. 425. Trắc nghiệm Holland ……………………………………………………………………. 42V. Danh mục tài liệu tìm hiểu thêm ………………………………………………………….. 44A. Lý thuyết về tham vấn hướng nghiệpNghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi người. Đặc biệtđối với học viên, việc lựa chọn nghề nghiệp theo năng lượng, theo tính cách và nhu cầucủa xã hội là điều rất cần chăm sóc. Vậy nên, việc tiến hành cơng tác hướng nghiệpnói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng là cực kỳ thiết yếu. Bởi lẽ thực trạngcho thấy công tác làm việc tham vấn hướng nghiệp cho học viên tại Nước Ta còn rất hạnchế. Trong khi nhu yếu được tham vấn khuynh hướng nghề nghiệp của học viên đượcthể hiện rất rõ. Theo quyết định hành động phê duyệt Số 522 / QĐ-TTg ngày 14 tháng 5 năm2018 của Thủ tướng nhà nước về việc thực thi Đề án “ Giáo dục đào tạo hướng nghiệp vàđịnh hướng phân luồng học viên trong giáo dục phổ thông quy trình tiến độ 2018 – 2025 ” đã chỉ ra rất rõ cần nâng cao nhận thức về cơng tác giáo dục hướng nghiệp, cần cósự thay đổi cũng như thiết kế xây dựng, lan rộng ra hơn nữa công tác làm việc giáo dục hướng nghiệpvà xu thế phân luồng học viên đại trà phổ thông vào chủ trương, kế hoạch chỉ huy pháttriển kinh tế tài chính – xã hội của từng địa phương. Công tác khuynh hướng nghề nghiệp ở Nước Ta lúc bấy giờ đang được quan tâmnhiều hơn và được tổ chức triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau như thơng qua hoạt độngdạy những môn khoa học cơ bản, môn công nghệ tiên tiến ; trải qua hoạt động giải trí ngoại khóa ; thơng qua hoạt động giải trí giáo dục hướng nghiệp chính khóa ; thơng qua hoạt động và sinh hoạt hướngnghiệp. Tất cả những hoạt động giải trí nhằm mục đích cung ứng cho học viên những kỹ năng và kiến thức cơ bảnnhất tương quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp. Tuy nhiên những khó khăn vất vả nhữngkhúc mắc ẩn sâu bên trong học viên lại chưa được khai thác kỹ lưỡng và giải quyếttriệt để. Bởi vậy tham vấn hướng nghiệp có vẻ như là một lựa chọn hiệu suất cao để giảiquyết yếu tố trên. I. Thực trạng của hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp1. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở trên thế giớiTham vấn hướng nghiệp Open ở những nước trên quốc tế từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Có rất nhiều những điều tra và nghiên cứu được thực thi với phong phú đối tượngnhư đối tượng người dùng ngồi trường phổ thơng những người thất nghiệp, sinh viên mongmuốn tìm việc làm .. , đối tượng người dùng học viên trường đại trà phổ thông. Đối với học viên đại trà phổ thông, những tác giả thực thi điều tra và nghiên cứu trước đó bao gồmSchmidt, 1996 ; Roger D. Herring 1998 ; Vernon 2002 tiến hànhnghiên cứu và đưa ra những nội dung vai trị của tham vấn viên ; tiềm năng, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn hướng nghiệp cho HS từ cấp tiểu họcđến trung học phổ thông ; phân phối dịch vụ nghề nghiệp cho học viên ; xác lập yếu tố liên quanđến nhìn nhận nói chung của giáo dục nghề và tham vấn hướng nghiệp. Nhìn chung, những nước trên quốc tế đã có những mơ hình giáo dục hướng nghiệptích cực, đơn cử. Ở nhiều nước tăng trưởng, có điều kiện kèm theo về nhiều mặt, lại có điểm xuấtphát từ khá sớm như tại châu Âu như Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, áo, Đức, ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, những nước khác ở Bắc Âu … , hay ở bắc Mỹ như Hoa Kỳ vàCanada , ở châu Úc và châu Đại Dương như nước Australia và New Zealand và nhiềunơi khác ở châu Mỹ La-tinh, ngay ở châu Phi, nhất là Bắc Phi và cộng hòa Nam Phi, mạng lưới hệ thống hướng nghiệp học đường và nghề nghiệp, từ giáo dục cho đến tư vấn đã cónhững bước tiến nhất định. Bên cạnh đó, cơng tác hướng nghiệp dành cho học sinhtrung học, phổ thơng cịn được lan rộng ra phong phú và Open từ sớm ở 1 số ít nướcĐông Nam Á như Nước Singapore, Malaysia ; những nước tăng trưởng ở Châu Á Thái Bình Dương như HồngKông, Nhật Bản, .. Những nội dung hướng nghiệp phong phú được thực thi từ sớm, với những mơ hình thực thi cơng tác hướng nghiệp một cách triệt để, tương thích vớiđặc điểm văn hóa truyền thống riêng. Nội dung giáo dục hướng nghiệp gồm có nhiều hoạt động giải trí, trong đó tham vấn hướng nghiệp là một trong số những hoạt động giải trí đó, việc chunsâu triển khai hình thức tham vấn chưa phải là Open ở tổng thể những nước mà phầnlớn là triển khai tích hợp nhiều hoạt động giải trí hướng nghiệp, phối hợp giữa tư vấn hướngnghiệp và tham vấn hướng nghiệp. Tuy nhiên, công tác làm việc tham vấn và tư vấn hướngnghiệp đều có sự tăng trưởng. Các em học viên được khuyến khích tự khám phá về bảnthân, thị trường nghề nghiệp để hoàn toàn có thể lựa chọn ngành tương thích với năng lượng, sở thíchvà khuynh hướng tương lai. Học sinh có do dự về nghề nghiệp đều hoàn toàn có thể tìm đếnphịng tương hỗ hướng nghiệp để được tham vấn, tư vấn riêng. Tại Hoa Kỳ, nhà tham vấn học đường ở những trường trung học cơ sở và trunghọc đại trà phổ thông phân phối nhu yếu của học viên ở ba nghành nghề dịch vụ cơ bản sau phát triểnhọc tập, tăng trưởng hướng nghiệp và tăng trưởng cá thể / xã hội. Đồng thời có tráchnhiệm tham vấn và hướng dẫn học viên những góc nhìn khác nhau của những yếu tố hoặcquyết định tương quan đến học tập và nghề nghiệp. Về hướng nghiệp, nhà tham vấnhọc đường được nhu yếu cung ứng cơ sở để tích lũy kiến thức và kỹ năng, thái độ và kỹ nănggiúp học viên quy đổi thành công xuất sắc vào thị trường lao động cũng như từ công việcnày sang việc làm khác trong suốt cuộc sống của họ. Các chương trình tham vấn họcđường đóng một vai trị quan trọng trong việc sẵn sàng chuẩn bị cho học viên chuyển tiếpthành công sang cấp học tiếp theo hoặc gia nhập lực lượng lao động Feller 2003 . Ở nhiều nước, trường học có hai văn phịng tham vấn riêng không liên quan gì đến nhau văn phòngtham vấn tâm lý và văn phịng tham vấn hướng nghiệp, ví dụ như mơ hình tham vấnhọc đường gồm cả văn phịng tham vấn tâm lý và văn phòng tham vấn hướng nghiệpcủa Mỹ Dahir, 2001 , Nhật Bản Yagi, 2010 , Lục địa châu úc Galliott và Graham, năm ngoái . Điều đó cho thấy, điều tra và nghiên cứu cũng như thực thi hình thức tham vấn hướngnghiệp nhìn chung đã Open trên quốc tế từ sớm và ngày càng đa dạng hóa hơnnữa. Nhà tham vấn học đường cũng như nghành tham vấn học đường vốn dĩ có sựphát triển từ lâu ở những nước trên quốc tế. Mà theo đó, nhà tham vấn học đường cóvai trị quan trọng thực thi nhiều vai trò, trách nhiệm khác nhau trong đó có tham vấnhướng nghiệp và địi hỏi cần được giảng dạy không chỉ năng lượng, kỹ năng và kiến thức chuyênmôn về tham vấn nói chung mà cịn là những kỹ năng và kiến thức xoay quanh yếu tố hướngnghiệp cho học viên. Những điều tra và nghiên cứu thực tại trên quốc tế là cơ sở quan trọng đểViệt Nam hoàn toàn có thể học hỏi và triển khai điều tra và nghiên cứu nâng cao tình hình tham vấnhướng nghiệp tại Nước Ta và từ đó tăng trưởng, lan rộng ra hình thức tham vấn hướngnghiệp, vận dụng linh động so với những vùng miền. 2. Thực trạng tham vấn hướng nghiệp ở Việt Nama. Thực trạng hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp, nguồn nhân lực tham vấnhướng nghiệpCác nỗ lực nghiên cứu và điều tra về tham vấn hướng nghiệp lúc bấy giờ ở Nước Ta tậptrung vào tình hình nhu yếu cũng như hiệu suất cao tham vấn. Những điều tra và nghiên cứu tiêubiểu hoàn toàn có thể thấy gồm có Nguyễn Kim Quý 2007 , Nguyễn Thị Việt Thắng 2008 ; Nguyễn Thị Nhân Ái 2011 , Nguyễn Mộng Đóa 2011 , đưa ra tầm quan trọng củatham vấn hướng nghiệp, những triết lý cũng như thực nghiệm công cụ được sửdụng trong tham vấn hướng nghiệp. Những nỗ lực điều tra và nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổngquan nhất về tình hình và tính cấp thiết của việc lan rộng ra, tăng trưởng hình thức thamvấn hướng nghiệp cho học viên trung học phổ thông, cũng như những thiếu sót và nhiều vấn đềcần điều tra và nghiên cứu thêm. Khái niệm giữa tham vấn và tư vấn hướng nghiệp tại Nước Ta có vẻ như vẫnchưa có sự phân tách rạch rịi, có những điểm giống và khác nhau. Nhìn chung thamvấn nói chung và tham vấn hướng nghiệp còn rất mới mẻ và lạ mắt tại Nước Ta, do đó thamvấn hướng nghiệp cho học viên trung học phổ thông chưa thực sự thông dụng, và trongcuộc sống khi nói đến tham vấn hướng nghiệp, mọi người vẫn nghĩ rằng đây là mộthình thức tựa như tư vấn nghề hoặc là tư vấn nghề. Xét về tình hình của việc xây dựng văn phòng tham vấn, tham vấn hướngnghiệp, Trường trung học cơ sở và THPT Đinh Thiện Lý, thuộc Tập đoàn Lawrence Sting, có hai văn phịng tham vấn riêng Hồng, Sơn, My và Lộc, 2018 . Trong hệ thốnggiáo dục công lập, những trường công lập từ tiểu học đến ĐH ở Nước Ta chỉ cómột phịng tham vấn và một hoặc hai chuyên viên đảm nhiệm cả công dụng tham vấntâm lý và tham vấn hướng nghiệp Hồng, Sơn, My và Lộc, 2018 . Nhân lực thiếuthốn khiến nhiều trường, giáo viên chủ nhiệm đảm nhiệm vai trò của nhà tham vấnhướng nghiệp. Thiếu nhân lực trong công tác làm việc hướng nghiệp cả về chất lượng và sốlượng là hiện tượng kỳ lạ thông dụng ở hầu hết những trường đại trà phổ thông Nước Ta ChâuNguyễn, 2013 . Bên cạnh đó, ở 1 số ít trường trung học phổ thông Nước Ta, việccác giáo viên chủ nhiệm lớp 11 hoặc 12 cũng đảm nhiệm cơng việc khuynh hướng nghềnghiệp. Phú, 2007 . Điều đó đặt ra yếu tố rằng có hay khơng việc cần nâng cao tính cấp thiết củavấn đề huấn luyện và đào tạo một cách nâng cao cho nhà tham vấn hướng nghiệp, bảo vệ nhàtham vấn hướng nghiệp cần có những kiến thức và kỹ năng, kỹ năng và kiến thức linh động tương quan đến lĩnhvực nghề nghiệp để tương hỗ học viên. Hướng nghiệp cũng như tham vấn hướng nghiệpđược xem như thể việc làm cần được triển khai như với việc giảng dạy trên lớp. Khigiáo viên đảm nhiệm vai trò hướng nghiệp cho học viên, đặt ra nhiều nỗi lo lắng vềnhững rủi ro đáng tiếc tiềm ẩn hoàn toàn có thể xảy ra trong cơng tác lựa chọn nghề nghiệp của học sinhkhi bản thân người giáo viên khơng có những kiến thức và kỹ năng chun sâu, rõ ràng, đầy đủvề cơng tác hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng. Do đó, học viên gặp rất nhiều khó khăn vất vả, thiếu thơng tin thiết yếu về thực trạngviệc làm, thiếu sự nhìn nhận bản thân có tương thích với ngành nghề mong ước haykhông để đưa ra quyết định hành động lựa chọn nghề đúng đắn. Do đó, học viên rất dễ lựa chọnsai nghề nghiệp, không tương thích với sở trường thích nghi, tính cách, giá trị của bản thân. Rồi cácem lại khởi đầu lại từ đầu hoặc thậm chí còn cứ để mọi thứ diễn ra không như ý muốn. Thực trạng công tác làm việc hướng nghiệp, tham vấn hướng nghiệp lúc bấy giờ khơng có hệthống, thiếu sự chun nghiệp, chưa có sự nghiên cứu và điều tra một cách kỹ lưỡng, đi sâu vàovấn đề tình hình, nhu yếu tham vấn hướng nghiệp của học viên. Có thể thấy, tham vấn hướng nghiệp nói riêng tại Nước Ta cũng như tâm lýhọc đường nói chung chưa cung ứng được những nhu yếu thiết yếu của công tác làm việc thamvấn hướng nghiệp cho học viên THPT. Theo số liệu của Ngun 2017 , tồn khuvực phía Nam, số lượng nhà tham vấn học đường chuyên nghiệp năm học 2017 2018 là 1,09 người / trường, số văn phòng tham vấn hiện có chỉ chiếm 35,8 % tổngdiện tích. Bên cạnh đó sự thiếu vắng nhân lực được giảng dạy sâu xa tương quan đếnnghề nghiệp gây ra áp lực đè nén không hề nhỏ so với ngành Tâm lý học học đường. Hiệntại, khi nhóm chúng tơi tìm kiếm về những chương trình huấn luyện và đào tạo về tâm lý học họcđường, thì có một số ít nơi phân phối những khóa huấn luyện và đào tạo thời gian ngắn, tuy nhiên như vậy khómà cung ứng được vừa đủ kỹ năng và kiến thức nâng cao thiết yếu cho việc thực thi thamvấn hướng nghiệp. Về cung ứng bằng cử nhân ĐH, tức là có giảng dạy chun sâuhơn, thì hiện mới chỉ có trường Đại học Giáo dục đào tạo triển khai đào tạo và giảng dạy Cử nhân Tâm lýhọc học đường, mở màn từ năm 2019 b. Thực trạng nhu yếu tham vấn hướng nghiệp, lựa chọn nghề của họcsinhHọc sinh trung học phổ thông lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn vất vả trong việc lựa chọn nghề nghiệp, đặc biệt quan trọng là khó khăn vất vả khi tự nhận thức, nhìn nhận năng lượng, tính cách, hứng thú, sởthích nghề nghiệp cũng như biết được những nhu yếu, đặc thù của nghề. Bên cạnhnhững nguồn lực trợ giúp những em như giáo viên, mái ấm gia đình, bạn hữu, .. thì những em cũngcó nhu yếu được tham vấn hướng nghiệp bởi người có trình độ tương quan đếntham vấn hướng nghiệpNghiên cứu về tình hình lựa chọn nghề của học viên trung học phổ thông trên địa phận HàNội, Nguyễn Thị Nhân Ái ĐH Sư Phạm Hà Nội, 2011 chỉ ra1. Học sinh thường chọn nghề theo cảm tính, thiếu sự xem xét Một trong nhữngkhó khăn đa phần ở HS là thiếu thông tin về quốc tế nghề nghiệp 83,43 % , thị trường lao động 78,5 % , hiểu biết về nghề 73,33 % , năng lực đánh giávề năng lượng cũng như những phẩm chất của bản thân 70,5 % 2. Định hướng giá trị nghề ở học viên chịu tác động ảnh hưởng rất lớn từ xu thế giátrị đời sống và quan điểm sống của những em Trải qua quy trình tăng trưởng, cácem có sự nhận thức về đặc thù tăng trưởng của ngành nghề qua nhiều nguồnthông tin khác nhau, giá trị khuynh hướng mang đặc thù nền tảng rất đa dạngnhư mái ấm gia đình, tình cảm, mục tiêu sống, sự giàu sang, .. 3. Lựa chọn trường trước khi lựa chọn nghề là đặc thù điển hình nổi bật ở học viên Địnhhướng ngành nghề những em nhận được phần đông là việc lựa chọn nghề theotrường, xu thế tìm kiếm trường học thuộc top chất lượng, hay thuộc topđiểm đầu vào thấp, … mà không biết được nhu yếu, năng lượng của bản thân làgì. Bên cạnh tình hình lựa chọn nghề, tình hình yếu tố chi phối đến quyết địnhchọn nghề cũng đáng được chăm sóc. Cả yếu tố chủ quan, và yếu tố khách quan đềucó tác động ảnh hưởng rất lớn đến quyết định hành động lựa chọn nghề nghiệp của học viên. Những yếutố khách quan bên ngồi hoàn toàn có thể kể đến đó là yếu tố hướng nghiệp trong nhà trường ; yếu tố mái ấm gia đình ; yếu tố nhu yếu xã hội ; yếu tố nhóm bè bạn. Yếu tố bên trong thuộcvề bản thân học viên hoàn toàn có thể kể đến yếu tố động cơ nghề nghiệp ; yếu tố định hướnggiá trị nghề nghiệp. Học sinh có nhu yếu cao trong việc tò mò nghề nghiệp phùhợp với tính cách, năng lượng, sở trường thích nghi của bản thân nhưng nhiều học viên khơng đượclựa chọn ngành nghề mình u thích do áp lực đè nén và kỳ vọng từ phía mái ấm gia đình Zellweger, Sieger và Halter, 2011 . Sự tích hợp giữa nhu yếu của học viên, nhu cầuxã hội và sự kỳ vọng từ mái ấm gia đình cần phải được điều tra và nghiên cứu và cân đối. Trương Thị Hoa Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục đào tạo, năm trước với đề tài nghiêncứu “ Giáo dục đào tạo hướng nghiệp cho học viên trung học phổ thông khu vực hà nội quatham vấn nghề ” chỉ ra tình hình lựa chọn nghề của học viên trung học phổ thông lúc bấy giờ, cụ thểtại địa phận Thành Phố Hà Nội cho thấy đa phần học viên 60,11 % khơng đưa ra được lí do chọnnghề. Số học sinh cịn lại thì những em chọn nghề theo sở trường thích nghi chiếm tỉ lệ cao nhất 19,13 % , sau đó chọn nghề tương thích với năng lực 7,10 % ; Do mái ấm gia đình xu thế 4,55 % , … và những lí do khác Nghề được mọi người trọng vọng ; nghề nổi tiếng ; nghềcó thời cơ thăng quan tiến chức …. thậm chí còn lựa chọn theo cảm tính của học viên. Đồng thời, họcsinh nhìn nhận hoạt động giải trí giáo dục hướng nghiệp thơng qua mơn học, hoạt động giải trí ngoạikhóa, thơng qua quy trình trao đổi với những tổ chức triển khai hướng nghiệp, .. đặc biệt quan trọng là thôngqua tham vấn hướng nghiệp ở mức thấp. Giáo viên có sự nhìn nhận cơng tác tham vấnhướng nghiệp tiếp tục, trên trong thực tiễn giáo viên có sự giải đáp vướng mắc mỗi khihọc sinh tìm đến, nhưng giáo viên hầu hết đã không hiểu rõ về thực chất tham vấnhướng nghiệp, mà chỉ có hiệu suất cao cao trong việc giải tỏa những stress của họcsinh bởi học viên gặp rất nhiều khó khăn vất vả trong quy trình chọn nghề. Như vậy, thơng qua nghiên cứu và điều tra trên, hình thức tham vấn hướng nghiệp cũngđã được giáo viên thực thi cũng như phản ánh nhu yếu thực tiễn của những em học sinhmong muốn có được sự trợ giúp trong quy trình lựa chọn nghề nghiệp. Tham vấnhướng nghiệp có vẻ như đã cho thấy được sự thiết yếu của nó trong việc giải quyếtkhó khăn sâu bên trong của học viên, bởi thực tiễn học viên tìm đến giáo viên như làmột lựa chọn tối ưu để được giải đáp trực tiếp những khúc mắc của bản thân. Tuynhiên, tham vấn hướng nghiệp chưa được triển khai theo đúng thực chất của nó. Điềuđó cho thấy tình hình cũng như nhu yếu thiết yếu có nhà tham vấn học đường nóichung, tham vấn hướng nghiệp nói riêng trong trường học. Nghiên cứu của Giang Thiên Vũ và tập sự Tạp chí giáo dục kỹ thuật và đàotạo Malaysia, 2020 chỉ ra rằng có một số lượng đáng kể học viên gặp khó khăn vất vả liênquan đến khuynh hướng nghề nghiệp và tham vấn hướng nghiệp. Và học viên gặp phảicàng nhiều yếu tố tương quan đến khuynh hướng nghề nghiệp thì càng cần được thamvấn để tìm ra nghề nghiệp tương thích cho mình. Nghiên cứu chỉ ra thêm, trong việc lựachọn nghề nghiệp, lượng học viên nữ tìm đến nhà tham vấn học đường nhiều hơn sovới học viên nam. Một nghiên cứu và điều tra về mơ hình tư vấn học đường trong trường họcViệt Nam của Giang, Nguyên và Mai 2017 chỉ ra rằng số liệu từ văn phòng thamvấn trường học tư thục nhận được tối thiểu 120 trường hợp mỗi năm, trong đó nữchiếm 78 %. Từ những tài liệu điều tra và nghiên cứu đó, giúp những nhà tham vấn học đường thựchiện mơ hình tham vấn hướng nghiệp tương thích với đặc thù tâm lý với đặc điểmgiới tính của học viên. Nhìn chung, những em cịn gặp nhiều khó khăn vất vả trong việc đưa ra lựa chọn nghề, và nhìn nhận năng lượng bản thân cịn hạn chế, những em khơng biết bản thân thích gì, điểm mạnh là gì. Một cuộc thăm dò của Falmi Trung tâm Dự báo nhu yếu nhân lựcvà tin tức thị trường lao động, thuộc Sở LĐTBXH Thành Phố Hồ Chí Minh mới gần đây cho thấycứ 4 học viên đăng kí thi Đại học, Cao đẳng thì có 3 em khơng hiểu gì về ngành nghềmình chọn. Theo Báo Tuổi trẻ trực tuyến, năm trước . Bởi vậy, tham vấn hướng nghiệp cónhiệm vụ quan trọng với tiềm năng giúp học viên hoàn toàn có thể tự xử lý những khó khănđể từ đó có quyết định hành động lựa chọn nghề tương thích nhà tham vấn có vai trò giúp những emhọc sinh tự mày mò bản thân, tìm hiểu và khám phá về thực trạng tăng trưởng của nghề, về hệthống trường đào tạo và giảng dạy trên cơ sở đó những em tự đưa ra quyết định hành động của mình. Đặc biệttrong thời kỳ quy đổi số, có tác động ảnh hưởng đến mọi ngành trong trong xã hội việc thì10cơng tác hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng là quan trọnghơn khi nào hết để học viên hoàn toàn có thể chớp lấy được vừa đủ, rõ ràng thông tin về nhucầu của xã hội, ngành nghề nào thông dụng, cung ứng thời cơ việc làm tốt ; cơ sở đàotạo nào tương thích với năng lượng, sở trường thích nghi của học viên để từ đó đưa ra lựa chọn phùhợp nhất. II. Quan điểm triết lý và mơ hình hướng nghiệpCác lí thuyết về hướng nghiệp cung ứng những hướng dẫn cho nhà tham vấntrong quy trình tương hỗ thân chủ về hướng nghiệp, trong đó có 3 phương pháp phân loạicơ bán nhất về tham vấn hướng nghiệp phân loại dựa trên đặc thù nhân cách, phânloại dựa trên quá trình tăng trưởng của con người và phân loại dựa trên q trình xử líthơng tin và ra quyết định hành động. Liên quan tới kim chỉ nan về phân loại nhân cách, ta cóThuyết đặc thù và yếu tố trait and factor theories của Parsons, Thuyết lựa chọnnghề của Holland, và Thuyết nhu yếu của Ann Rose. Lý thuyết dựa trên giai đoạnphát triển, ta có Thuyết vịng đời, khơng gian sống Super’s life-span, life-spacetheory . Phân loại dựa trên quy trình xử lí thơng tin và ra quyết định hành động, ta có Thuyếtvề mơ hình cá thể hóa individualistic Mã Sản Phẩm , Thuyết học tập, và Thuyết về mơhình ra quyết định hành động decision – making Model . 1. Phân loại dựa trên nhân cáchThuyết nét nhân cách và yếu tố của ParsonĐây là một thuyết Open từ rất sớm trong lịch sử dân tộc tăng trưởng hướng nghiệpkhi được Parson ra mắt vào đầu thế kỉ 20, và sau đó được tăng trưởng bởi William. Mơ hình tiên phong do Parson ra mắt vào năm 1909 nhấn mạnh vấn đề tầm quan trọng của nghiên cứu và phân tích nhân cách ’ nhằm mục đích mục tiêu thôi thúc sự hiểu biết về cá thể 2011 . Thuyết nét nhân cách và thành tố dựa trên quan điểm thuyết về sựkhác biệt giữa những cá thể, rằng mỗi cá thể đều có những đặc thù, nét nhân cáchriêng Nét nhân cách là một cấu trúc tâm-sinh lý không dễ bị hủy hoại, được định vịtrong não và hệ thần kinh, S. M. Ahmad, 2011 và năng lượng độc lạ, và chúng cóthể được đo lường và thống kê. Đầu tiên, nhà tham vấn sẽ sử dụng những trắc nghiệm, thang đo tâmlý để phát hiện ra những đặc thù nhân cách riêng không liên quan gì đến nhau ở cá thể. Đây được coi là việc11làm cơ bản và quan trọng nhất Thắng, 2008 và thực sự trắc nghiệm, đánh giávề nhân cách rất tương thích cho nhà tham vấn đưa ra lời khuyên về lựa chọn nghềnghiệp. Sau đó, nhà tham vấn sẽ tương hỗ cá thể tìm hiểu và khám phá về nghề nghiệp, phân loạicông việc hiện tại trong thị trường lao động. Cuối cùng, từ những trắc nghiệm, nhữngđánh giá về năng lượng, thái độ và nhu yếu của cá thể, nhà tham vấn sẽ cùng với thânchủ phối hợp những đặc thù này với ngành nghề tương thích này, từ đó đưa ra gợi ý hỗ trợthân chủ lựa chọn ngành nghề họ cảm thấy tương thích. Williamson đã tăng trưởng thangđo nhìn nhận nghề nghiệp Minnesota Minnesota occupational rating Scale nhằmphục vụ cho việc giám sát và giúp vấn đáp cho câu hỏi rằng Với đặc thù nhân cáchcủa tôi như vậy, tơi sẽ chọn nghề A, và chỉ có nghề A là tương thích với tơi ’ 2008 . Tuy rằng có sự tương hỗ của trắc nghiệm và thang đo tâm lý, nhà tham vấn thựcsự khó đưa ra câu vấn đáp đúng chuẩn cho câu hỏi của thân chủ Với đặc thù của tôi, nhà tham vấn hãy cho biết tôi nên làm gì ’. Cùng với đó, những yếu tố về năng lượng, sởthích, nhu yếu, thậm chí còn là nét nhân cách, cũng hoàn toàn có thể đổi khác theo thời hạn, vậynên, việc đưa ra gợi ý về nghề nghiệp cần phải xem xét tới những sự đổi khác này. Thuyết của Holland về lựa chọn nghềThuyết của Holland về lựa chọn nghề, hay còn được gọi là Thuyết phân loạiHolland Holland Typology Theory , là một kim chỉ nan được sử dụng rất phổ cập, dựa trên giả định rằng nhân cách của một cá thể là yếu tố chính trong việc lựa chọnnghề nghiệp S. M. Ahmad, 2011 và đặc thù nhân cách phải được xét trong mốiquan hệ thống nhất với nghề nghiệp Thắng, 2008 . Cá nhân cùng với nhàtham vấn cần phải nhìn ra được mối liên hệ giữa kiểu nhân cách và đặc thù nghềnghiệp cũng như thiên nhiên và môi trường thao tác, bởi, bên cạnh những nhu yếu đặc trưng về đặcđiểm tính cách, năng lực tâm lý phân phối cho từng nghề, con người có xu thế kếtthân với những người tương thích với mình, như thể những có cùng tính cách, hoặc cótính cách bù trừ hài hịa với họ, và từ đó sẽ chọn những cơng việc ở những nơi màhọ cảm thấy xung quanh mình là những người tương thích với họ, cũng như tạo điềukiện để họ hoàn toàn có thể bộc lộ được cái tơi của mình, tạo cảm xúc tự do khi thao tác Hà, 2009, Thắng, 2008 . 12H olland đã đưa ra 6 kiểu nhân cách cơ bản Kiểu người trong thực tiễn Realistic , Kiểu người tìm tịi nghiên cứu và điều tra Investigative , Kiểu người có tính nghệ thuật và thẩm mỹ Artist , Kiểu người xã hội Social , Kiểu người dám nghĩ dám làm enterprising , Kiểu ngườiquy tắc Conventional , và cho rằng hầu hết những thiên nhiên và môi trường thao tác tương thích vớicác loại nhân cách này, cũng như chú ý quan tâm rằng chúng hiếm khi Open dưới dạngthuần túy. Mô tả đơn cử về 6 kiểu nhân cách này và mơi trường tương thích được trìnhbày trong bảng dưới Bảng kiểu nhân cách, đặc thù và môi trường tự nhiên nghề nghiệp thích hợpKiểuĐặc điểmMơi trường nghề nghiệp thích hợpnhâncáchThực tếLối tư duy thực tế, thẳngCông việc tương quan tới thiết kế xây dựng, thắn, thích sự tỉ mỉ. làm thợ, làm kĩ sư ví dụ phi cơng, u thích những hoạt động giải trí thểthợ máy, thợ mộc, kĩ sư đầuchất, những hoạt động giải trí có liênmáy, … quan tới máy móc, dụng cụ, cấu trúc. Ưa thích cơng việc trựcquan, thực tiễn hơn là mangnhiều yếu tố trừu tượngKhámpháLuôn đặt câu hỏi Mọi việcMôi trường nghiên cứu và điều tra học thuậtdiễn ra như thế nào nhỉ ? và nhà khoa học về toán, vật lí, xãtìm tịi câu trả lờihội, … Có khuynh hướng cơng việcrõ ràng, thích nghiên cứuhọc thuật và khoa học bác sĩ, dược sĩ 13C ông việc tương quan tới y dượcCông việc kĩ sưGiải quyết cơng việc với lốitư duy nghiên cứu và phân tích đơn cử, trừu tượngNghệthuậtKiểu người nhạy cảm, dễxúc động, giàu trí tưởngtượngCác nghành thẩm mỹ và nghệ thuật họa sỹ, nhạc sĩ, nhà văn, … Các nghành nghề dịch vụ tương quan tới sự sángCó xu thế bộc lộ bảntạo và tính mỹ học phong cách thiết kế đồ họa, thân thơng qua những tácẩm thực, nhà phê bình, phong cách thiết kế nộiphẩm, cơng trình nghệthất, giáo viên mỹ thuật, … thuậtĐề cao tính mỹ học và sựsáng tạoXã hộiYêu thích tương tác xã hộivà thường có năng lực giaotiếp tốt, nhạy cảm với cảmluyện viênCông việc tương quan tới phúc lợi xãxúc của người khác. hội nhà cơng tác xã hội, nhà hoạtCó xu thế thực thi cácđộng xã hội, nhà trị liệu, người tưcông việc hướng tới hỗ trợvấn, … hội đồng. Lĩnh vực giáo dục giáo viên, huấnTruyền giáoVai trò chỉ huy hiệu trưởng, Được cho là những ngườithân thiện, dễ mến. Dámnghĩ, dám làmNhiệt tình, năng động, cótham vọng, giám đốc, … Có khuynh hướng mạo hiểm, thểVai trị quản lí và giám sát quản líhiện sự thống trị và áp đặt. nhân sự, giám sát bán hàng, quảnCó tài chính trị, dẫn dắt vàlí đại lí … biểu lộ sáng tạo độc đáo. Luật sư, thẩm phán, phát thanhviên, … 14Q uy tắcu thích sự trật tự, tnthủ xã hộiKế tốn, thủ quỹ, nhân viên cấp dưới nhàsách, thủ thư, … Thực hiện những việc làm cóLogistictính mạng lưới hệ thống, tương quan tớiNhà hoạch địnhsố liệu, kinh doanhCó năng lực tổ chức triển khai, lập kếhoạchXuất phát từ lí thuyết của Holland, thang đo về Tự tìm kiếm khuynh hướng nghềnghiệp Self-directed Search, SDS đã được sinh ra, Bản kiểm kê Ưa thích nghềnghiệp Vocational Preference Inventory, VPI và Phân loại thẻ Card sort , Occ-USort được sinh ra và tăng trưởng. Thuyết nhu yếu của Ann Rose Need Approach Thuyết nhu yếu bắt nguồn từ phân tâm, nhấn mạnh vấn đề rằng những trải nghiệmđầu đời có tương quan ngặt nghèo đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này của cá thể, chúng đóng một vai trị quan trọng trong việc cá thể tìm thấy sự thỏa mãn nhu cầu của mìnhtrong một nghành nghề dịch vụ nghề nghiệp nhất định. Việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ giúp mỗicá nhân thỏa mãn nhu cầu nhu yếu vô thức của bản thân mình. Lý thuyết của Roe có quanhệ ngặt nghèo với thang nhu yếu của Maslow, trong đó những nhu yếu cơ bản của conngười cần phải được thỏa mãn nhu cầu trước khi thỏa mãn nhu cầu những nhu yếu bậc cao và việctìm kiếm nghề nghiệp nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu một trong những nhu yếu cơ bản của conngười Thắng, 2008 . Roe đã đưa ra 8 nghành nghề dịch vụ nghề nghiệp occupational field đó là 1 Dịch Vụ Thương Mại service , 2 Kinh doanh business contact , 3 Ttổ chức organizations , 4 Công nghệ technology , 5 Làm việc ngồi trời outdoor , 6 Khoa học science , 7 Văn hóa general cultural , 8 Nghệ thuật, vui chơi art / entertainment . Đồng thời, Roe cũng đưa ra sáu mức độ nghề nghiệp đó là 15 1 Chuyên nghiệp và quản trị bậc I – những người này có trình độ chunmơn sâu, có năng lực quản trị, và quyết định hành động của họ có ảnh hưởng tác động quan trọng đếncông việc của những người khác. 2 Chuyên nghiệp và quản trị bậc II – Những người này cũng có trình độchun mơn, có năng lực quản trị với quy mơ nhỏ hơn và những quyết định hành động của họ cóảnh hưởng ở khoanh vùng phạm vi nhỏ hơn. 3 Bán chuyên nghiệp và kinh doanh thương mại nhỏ. 4 Những người lao động có kiến thức và kỹ năng. 5 Những người lao động bán kỹ năng và kiến thức. 6 Những người lao động khơng có kỹ năng và kiến thức. Những nghiên cứu và điều tra Roe đã dẫn bà đến việc mày mò những phong thái làm chamẹ ảnh hưởng tác động đến tính thứ bậc của nhu yếu và những mối quan hệ của những nhu yếu nàyvới những phong thái sống sau này khi người đó trưởng thành. Roe công bố rằngnhững tương tác khác nhau giữa cha mẹ và con cháu dẫn đến những lựa chọn nghềkhác nhau Hà, 2009 . Bà cũng đưa ra ba mẫu hình cha mẹ Những người quábảo vệ con overprotective , những người lảng tránh avoidant , và những ngườichấp nhận acceptant . Việc dạy dỗ những con và kiến thức và kỹ năng làm cha mẹ có ảnh hưởngđến sự tăng trưởng nhân cách của trẻ, và sự tác động ảnh hưởng đó bộc lộ đứa trẻ có hướngtới con người hay không hướng tới con người. Xuất phát từ triết lý của Roe, cómột cơng cụ được tăng trưởng và sử dụng thoáng đãng trong tư vấn hướng nghiệp là Hệthống hướng nghiệp Career Occupational Preference System Thắng, 2008 . 2. Phân loại dựa trên quy trình phát triểnTất cả những kim chỉ nan về quy trình tăng trưởng đều tập trung chuyên sâu tìm hiểu và khám phá những giai đoạnthay đổi trong đời sống con người, và ảnh hưởng tác động của những biến hóa trong những giaiđoạn tăng trưởng của con người đến quyết định hành động lựa chọn nghề nghiệp. Việc lựa chọnnghề nghiệp lê dài và có năng lực biến hóa, chứ khơng chỉ là một quyết định hành động duynhất được đảm nhiệm trong một thời hạn đơn cử trong cuộc sống mỗi con người. Lý thuyết của GinzbergTheo Ginzberg thì việc tăng trưởng nghề nghiệp có ba quy trình tiến độ chính 2008 16G iai đoạn thương mến tưởng tượng – fantasy , lê dài đến 11 tuổi. Trongsuốt tiến trình này, trị chơi có tác động ảnh hưởng rất lớn đến việc từ từ hìnhthành khuynh hướng nghề và hoạt động giải trí này phản ánh những sở trường thích nghi banđầu về những loại hoạt động giải trí khác nhau. Thơng qua game show sắm vai vaitrò xã hội – vai nghề cá thể có những nhìn nhận có giá trị bắt đầu vềthế giới nghề. Giai đoạn thăm dò chú ý quan tâm, tập trung chuyên sâu từ 11 tuổi đến 17 tuổi, đây là giaiđoạn mà năng lực và mối chăm sóc của cá thể cần được kiểm nghiệm. Thời kỳ thăm dò được chia làm 4 quy trình tiến độ. Trước tiên là giai đoạnhứng thú, trong suốt tiến trình này cá thể đưa ra những quyết địnhliên quan đến sở trường thích nghi và khơng thích. Tiếp đến là quy trình tiến độ khả năngđược nhận thức về năng lượng của một người khi tương quan đến nhữngmong muốn về nghề. Thứ ba là quá trình giá trị, lúc này những nhậnthức về kiểu nghề Open một cách rõ ràng hơn. Trong quá trình cuốicùng, tiến trình vận động và di chuyển cá thể nhận thức về quyết định hành động lựa chọnnghề và tiếp theo là những nghĩa vụ và trách nhiệm đi cùng với lựa chọn nghề. Giai đoạn thực tiễn, từ 17 đến 20 tuổi. Ở tiến trình này, những sự lựa chọnđược đưa ra dựa trên sự xem xét về năng lực, nhu yếu. Giai đoạn thựctế được chia làm 3 quy trình tiến độ nhỏ. Giai đoạn tiên phong là tiến trình khámphá. Trong suốt quá trình này, cá thể thu hẹp lựa chọn nghề trong từ2 hoặc 3 năng lực, nhưng nhìn chung ở quy trình tiến độ này Open mâuthuẫn trong tư tưởng và chần chừ. Tuy nhiên, trọng tâm nghề có phạm vihẹp hơn. Trong tiến trình thứ 2 gọi là tiến trình kết tinh, cam kết phạmvi nghề chuyên biệt được hình thành. Giai đoạn sau cuối là sự địnhhướng rõ ràng, ở tiến trình này cá thể chọn nghề hoặc được đào tạonghề đơn cử. Ginzberg cho rằng quy trình lựa chọn nghề nghiệp là một quy trình mở vàkéo dài suốt đời, việc biến hóa nghề nghiệp hoàn toàn có thể diễn ra bất kỳ khi nào trong cuộcsống. Lý thuyết của Gottfredson17Lý thuyết của Gottfredson được gọi là triết lý điều kiện kèm theo và thỏa hiệp. có bốngiaiđoạn chính trong tăng trưởng nghề nghiệp Thắng, 2008 1 Giai đoạn khuynh hướng về năng lực và số lượng giới hạn từ 3 đến 5 tuổi. 2 Giai đoạn khuynh hướng về vai trò giới từ 6 đến 8 tuổi. 3 Giai đoạn khuynh hướng những giá trị xã hội, từ 9-13 tuổi, 4 Giai đoạn xu thế cho bản thân với những đặc thù và giá trịduy nhất, từ 14 tuổi trở lên. Thơng qua q trình tăng trưởng nghề nghiệp, mỗi cá thể sẽ xem xét trướccác điều kiện kèm theo của chính bản thân, sau đó lựa chọn một số ít nghề nghiệp trong khnkhổ hoàn toàn có thể gật đầu được thơng qua q trình thỏa hiệp. Những tưởng tượng vềnghề nghiệp sẽ giúp cho cá thể hiểu được về những loại nghề nghiệp, từ đó điềuchỉnh, thiết kế xây dựng một cái tơi có tính tương đối và điều này dẫn đến việc tìm đượcnhững loại nghề nghiệp mong ước và thỏa hiệp để lựa chọn được những nghề nghiệpphù hợp. Thuyết tăng trưởng nghề nghiệp và đời sống của Super Super CareerDevelopment Theory Super không nhấn mạnh vấn đề khái niệm lựa chọn nghề nghiệp mà tập trung chuyên sâu nhấnmạnh khái niệm tăng trưởng nghề nghiệp dựa trên sự tự nhận thức của cá thể. Sự tựnhận thức về nghề nghiệp của cá thể cho thấy sự nhìn nhận của cá thể đối vớichính bản thân mình. Bản thân cá thể là người hiểu về chính bản thân họ, tự đánhgiá và hành vi theo những năng lượng và nỗ lực của bản thân họ S. M. Ahmad, 2011 . Theo Super, có 5 quy trình tiến độ tăng trưởng nghề nghiệp Thắng, 2008 , đó là 1 Phát triển growth từ khi sinh ra đến lúc 14 tuổi, quá trình này mỗi cánhân tăng trưởng năng lực, năng lượng, hứng thú, nhu yếu. 2 Giai đoạn tò mò exploration từ 15 đến 24 tuổi. Giai đoạn này việcmỗi cá thể lựa chọn nghề nghiệp như thế nào đã được số lượng giới hạn lại, nhưng vẫn chưa18phải là quy trình tiến độ lựa chọn sau cuối. Trong đó, ở quy trình tiến độ từ 14 đến 18 tuổi, mỗicá nhân phải thiết lập được cho mình những tiềm năng tổng quát về nghề nghiệp. 3 Giai đoạn thiết lập establishment từ 24 đến 44 tuổi, ở quá trình này cánhân đã có những lựa chọn nghề nghiệp cho mình một cách bền vững và kiên cố, không thay đổi côngviệc và tạo dựng những kinh nghiệm tay nghề thao tác. Cụ thể, trong tiến trình từ 18 đến 21 tuổi, mỗi cá thể sẽ chuyển từ những chú ý quan tâm của mình đến một số ít nghề nào đó sangviệc lựa chọn nghề đơn cử, từ 21 đến 24 tuổi, cá thể khởi đầu vận dụng những lựachọn của mình thơng qua việc hồn thiện những khóa huấn luyện và đào tạo và khởi đầu vào làmnhững việc làm đơn cử. 4 Giai đoạn duy trì maintenance , từ 44 đến 64 tuổi, đây là tiến trình tiếptục kiểm soát và điều chỉnh của mỗi cá thể để hồn thiện cơng việc của bản thân mình. 5 Giai đoạn giảm sút Decline , từ 65 tuổi trở lên, mỗi người đang xem xétviệc nghỉ hưu của mình, giảm cường độ thao tác. Các quá trình này cũng hoàn toàn có thể được chia thành a những pha tưởng tượng, dựkiến và trong thực tiễn của quá trình tò mò ; b những pha thử nghiệm và không thay đổi của giaiđoạn thiết lập. Bên cạnh đó, Super cịn đưa ra mơ hình cầu vồng ” rainbow “, một mơhình thông dụng trong cơng tác hướng nghiệp ứng với mỗi vòng, mỗi quy trình tiến độ củacầu vồng, con người sẽ triển khai những trách nhiệm khác nhau. Có một khái niệm được đề cấp tới trong lí thuyết của Super, đó là trưởngthành nghề nghiệp career maturity – một cấu trúc mơ tả mức độ hồn thành củamột cá thể so với những trách nhiệm tăng trưởng nghề nghiệp khác nhau tương thích vớitừng quá trình tăng trưởng trong suốt thời kì thanh thiếu niên. Để lượng giá mức độtrưởng thành nghề nghiệp và tăng trưởng nghề nghiệp trong quy trình tiến độ này, ta hoàn toàn có thể sửdụng Bản kiểm kê sự tăng trưởng nghề nghiệp Career Development Inventory, CDI và Bản kiểm kê sự trưởng thành nghề nghiệp Career Maturity Inventory, CMI Ahmad, 2011 . 3. Phân loại dựa trên quy trình xử lí thơng tin và ra quyết địnhNhững người theo hướng này này tập trung chuyên sâu vào phương pháp mỗi cá thể xử lýcác thơng tin sẵn có trong q trình ra quyết định hành động nghề nghiệp. Thuyết về mơ hình cá thể hóa individualistic Mã Sản Phẩm 19L ý thuyết của về mơ hình cá thể hóa của Tiedeman dựa trên vấn đề cơbản là việc cá thể lựa chọn nghề nghiệp như thế nào luôn gắn với việc xác địnhbản sắc cái tơi của mình ego identity . Tiedeman đưa ra hai khái niệm và cũng làhai quy trình tiến độ chính trong q trình lựa chọn và tăng trưởng nghề nghiệp Giai đoạn mong đợi anticipation cá thể tưởng tượng về hình ảnhbản thân trong những nghề nghiệp đơn cử. Giai đoạn này lại gồm có 4 pha nhỏ mày mò, đúc rút, lựa chọn, và làm rõ. Giai đoạn vận dụng implementation cá thể tham gia vào một cuộcthử nghiệm thực tế khi xem xét những mong đợi về nghề nghiệp. Giai đoạnnày cũng gồm có 4 pha nhỏ quy nạp thơng tin, đổi khác, hợp nhất, vàduy trì. Tiedeman cho rằng, mỗi cá thể hồn tồn có năng lượng lựa chọn nghề nghiệpchobản thân mình, và điều này cũng giúp cho những người làm tư vấn hướng nghiệpkhông phải vấn đáp những câu hỏi như ” Nhà tư vấn, hãy nói cho tơi, hãy quyết địnhcho tơi xem tơi nên làm gì “. Việc lựa chọn nghề nghiệp, tuy là một quy trình liên tụcvà hoàn toàn có thể được diễn ra ở bất kể tiến trình nào trong cuộc sống, nhưng mỗi cá nhânphải tự đưa ra những quyết định hành động tương quan đến nghề nghiệp tại những thời gian cụthể trong cuộc sống Thắng, 2008 . Thuyết học tập Learning theory Những người đi theo quan điểm này chịu ảnh hưởng tác động lớn của Bandura và lýthuyết học tập xã hội của ông. Theo thuyết học tập xã hội, quy trình tăng trưởng nghềliên quan đến 4 yếu tố Khả năng bẩm sinh và những năng lượng đặc biệt quan trọng gồm có những phẩmchất di truyền và những phẩm chất này hoàn toàn có thể tạo nên những năng lựcđặc biệt hoặc làm hạn chế những thời cơ nghề nghiệp của cá thể. Điều kiện thiên nhiên và môi trường và những sự kiện những yếu tố tác động ảnh hưởng thườngvượt quá tầm trấn áp cá thể. Một vài sự kiện và hồn cảnh trongmơi trường của cá nhân ảnh hưởng đến những kiến thức và kỹ năng tăng trưởng, những hoạtđộng, và những sở trường thích nghi về nghề. 20K inh nghiệm học tập gồm có những thưởng thức học tập mang tính trựcquan và những thưởng thức học tập liên tưởng. Các kinh nghiệm tay nghề học tập trực quan được hiểu là những kinhnghiệm mà những cá thể học được từ quan sát trực tiếp những hànhđộng và trải qua tương tác với những người khác, ảnh hưởngtới kế hoạch và tăng trưởng nghề. Các thưởng thức học tập mang tính liên tưởng gồm có nhữngtương tác tích cực và xấu đi với những yếu tố trung gian, có ảnhhưởng đến nhận thức của cá thể về những nghề này. Kỹ năng xử lý việc làm Bao gồm những kỹ năng và kiến thức như những kỹ nănggiải quyết yếu tố, những thói quen thao tác, những khuynh hướng của trí tuệ, những nghĩa vụ và trách nhiệm mang tính tình cảm và những nghĩa vụ và trách nhiệm về mặt hìnhthức. Các kỹ năng và kiến thức này sẽ lao lý tác dụng của những yếu tố và nhữngnhiệm vụ mà cá thể phải đương đầu. Mơ hình học tập xã hội nhấn mạnh vấn đề đến tầm quan trọng của kinh nghiệm tay nghề cóđược thơng qua học tập và tác động ảnh hưởng của chúng đến lựa chọn nghề. Hình thànhquyết định về nghề được xem là quy trình lâu bền hơn và là kiến thức và kỹ năng quan trọng phải đượcdạy trong quy trình giáo dục và trong những chương trình tham vấn hướng nghiệp. Khidạy về những kỹ năng và kiến thức ra quyết định hành động, những tác nhân tác động ảnh hưởng đến lựa chọn nghề sẽ đượcnhấn mạnh. Các yếu tố có tác động ảnh hưởng đến những sở trường thích nghi được lý giải trong mơ hìnhhọc tập xã hội là quy trình nhận thức, những tương tác trong môi trường tự nhiên, những đặc trưngvà đặc thù nhân cách nổi trội. Yếu tố di truyền cũng có sự tác động ảnh hưởng tới sở thíchở một mức độ nhất định. Mơ hình ra quyết định hành động decision – making Model Theo Gelatt, việc lựa chọn nghề nghiệp hoàn toàn có thể được xem là một mạng lưới hệ thống cóthể dự đốn được, và thơng tin đóng vai trị quan trọng nhất trong hàng loạt hệ thốngnày. Hệ thống dự đốn trong q trình ra quyết định hành động hoàn toàn có thể phân ra theo ba tiêu chuẩn, 1 tiêu chuẩn mang tính dự đốn predictive , 2 tiêu chuẩn mang tính giá trị value 2 , 21 và 3 tiêu chuẩn mang tính quyết định hành động decision . Gelatt gọi thông tin là năng lượngcủa những quyết địnhTrên đây chỉ là ba tiếp cận chính với 1 số ít lí thuyết cơ bản, tương đối phổbiến trong hoạt động giải trí hướng nghiệp nói chung và tham vấn hướng nghiệp nói riêng, và những mơ hình, cơng cụ kèm theo nhằm mục đích tương hỗ cá thể trong quy trình chọn nghề, tăng trưởng nghề nghiệp. Thực tế, cịn rất nhiều những lí thuyết khác về hướng nghiệp, và có những lí thuyết khơng rơi vào bất kỳ cách tiếp cận nào ở trên, như Thuyết thểhiện nhu yếu needs-press theory của Murray, Lý thuyết trưởng thành nghề nghiệp career maturity của CritesIII. Nội dung được triển khai trong tham vấn hướng nghiệpTham vấn hướng nghiệp là một trong những con đường giáo dục hướngnghiệp quan trọng, có ý nghĩa quyết định hành động đến sự lựa chọn nghề của học viên trên cơsở trợ giúp học viên tự xử lý được những khó khăn vất vả của bản thân, tự nhận thứcvà nhìn nhận bản thân, hiểu biết về ngành nghề, trường thi và năng lực ra quyết địnhchọn nghề tương thích năng lượng, tính cách, sở trường thích nghi của cá thể. Qua nghiên cứu và điều tra thì cũng cho thấy rằng, lúc bấy giờ tại những trường trung học phổ thông cũngcó vận dụng tham vấn hướng nghiệp tới những học viên, tuy nhiên thực chất của việc thựchiện này chưa tương thích với thực chất đặc trưng của tham vấn hướng nghiệp. Chính vìvậy mà cần phải có một quá trình tham vấn hướng nghiệp vừa dựa trên mục tiêugiáo dục hướng nghiệp đồng thời xác lập phương pháp tiến hành quá trình phù hợptheo những bước nhất định để giáo dục hướng nghiệp cho học viên. 1. Nguyên tắc thiết kế xây dựng và triển khai quá trình hoạt động giải trí tham vấn hướngnghiệpa. Nguyên tắc kiến thiết xây dựng quy trình tiến độ hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp 1 Quy trình hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp trong giáo dục hướng nghiệp đượcxây dựng trên cơ sở quy trình tiến độ tham vấn tâm lý và tiến trình tư vấn hướng nghiệp. 22T ham vấn hướng nghiệp là một loại của tham vấn tâm lý, vì thế trong quátrình kiến thiết xây dựng quá trình tham vấn hướng nghiệp cần phải tuân thủ theo quy trìnhcủa tham vấn tâm lý tương tác với học viên nhằm mục đích san sẻ đồng cảm, đồng cảm vớihọc sinh về những yếu tố tương quan đến lựa chọn ngành nghề cho tương lai, từ đó cóthể làm biến hóa nhận thức, ý niệm, thái độ, và sự lựa chọn ngành nghề của họcsinhMặt khác, tham vấn hướng nghiệp còn là một trong những con đường để giáodục hướng nghiệp thế cho nên đây cũng được coi là một hình thức của giáo dục hướngnghiệp. Trong giáo dục hướng nghiệp có quá trình tham vấn hướng nghiệp vì vậycần phải dựa trên tiến trình tham vấn hướng nghiệp nhằm mục đích bảo vệ tính khoa học vàlogic của tiến trình. 2 Đảo bảo tương thích với tiềm năng giáo dục hướng nghiệp ở THPTQuy trình tham vấn hướng nghiệp phải góp thêm phần triển khai tiềm năng giáo dụchướng nghiệp ở trung học phổ thông, đó là trợ giúp học viên tự phát hiện, tự xử lý, tự đưa rađược quyết định hành động chọn nghề cho bản thân. Sau khi triển khai tham vấn hướng nghiệpcho học viên cần đảm bản cho học viên – Giải quyết được những khó khăn vất vả trong q trình chọn nghề – Có năng lượng nhận thức và nhìn nhận bản thân năng lực, tính cách, sở trường thích nghi, hứng thú của bản thân – Hiểu rõ được nhu yếu, đặc thù của ngành nghề, trường thi – Có năng lượng chọn nghề tương thích 3 Đảm bảo tính hiệu suất cao và khả thiQuy trình tham vấn hướng nghiệp bảo vệ cho giáo viên hoàn toàn có thể vận dụngđược trong thực tiễn giáo dục hướng nghiệp ở trung học phổ thông, giúp học viên lựa chọn đượcngành nghề tương thích hơn với năng lượng, tính cách của học viên, góp thêm phần thực hiệntốt tiềm năng giáo dục hướng nghiệp trong quá trình lúc bấy giờ ở Nguyên tắc triển khai quá trình hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp23 1 Đảm bảo quyền lợi của học viên. Đảm bảo quyền lợi của cả nhóm, đồng thờiđảm bảo quyền lợi của từng cá thể. Trong quy trình tham vấn thì phải luôn đặt họcsinh làm trọng tâm, đặc biệt quan trọng so với từng cá thể học viên vì có những khó khăn vất vả màcác em khơng thể nói ra với mọi người, nhà tham vấn cũng cần bảo mật thông tin những thôngtin của những học viên. 2 Tôn trọng và hợp tác với học viên. Ở bất kể trường hợp nào, quá trình nàothì nhà tham vấn hướng nghiệp đều phải tôn trọng học viên, tôn trọng những quan điểm, tâm lý của những em trong quy trình chọn ngành nghề. Bởi mỗi một học viên đều cónhững nguyên do, hồn cảnh, điều kiện kèm theo riêng khi những em đưa ra những nhận định và đánh giá, suynghĩ của bản thân. Vì vậy nhà tham vấn hướng nghiệp cần phải chú ý quan tâm về việc luôntôn trọng học viên trong quy trình tham vấn để đạt được hiệu suất cao và tạo ra khônggian thỏa mái cho đôi bên. 3 Linh hoạt mềm dẻo trong quy trình tham vấn. Nhà tham vấn cần phải linhhoạt tùy thuộc vào năng lực của học viên. Học sinh đã đạt mức độ cao ở nội dungnào thì nhà tham vấn hoàn toàn có thể bỏ lỡ và chuyển sang bước tiếp theo, và trong quá trìnhthực hiện những bước tiếp theo nếu như thiết yếu phải quay lại bước trước thì nhà thamvấn cần linh động biến hóa để quay trở lại bước trước đó. Có thể tham vấn nhómtrước và tham vấn cá thể sau hoặc ngược lại, hoặc hoàn toàn có thể làm song song. 2 Quy trình hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp và hiệu suất cao của quá trình hoạtđộng tham vấna. Quy trình hoạt động giải trí tham vấn hướng nghiệp và cách thực hiệnTham vấn hướng nghiệp dựa trên cơ sở trợ giúp học viên tự xử lý nhữngkhó khăn của bản thân, tự nhận thức và nhìn nhận bản thân, hiểu biết về ngành nghềtrường thi và năng lực ra quyết định hành động chọn nghề tương thích năng lượng, tính cách, sở thíchcủa cá thể. Quy trình hoạt động giải trí tham vấn 3 quá trình 11 bước được trình diễn dưới đâyđược trích từ điều tra và nghiên cứu của Trương Thị Hoa Luận án Tiến sỹ Khoa học Giáo dục đào tạo, năm trước với đề tài “ Giáo dục đào tạo hướng nghiệp cho học viên trung học phổ thông khu vực24Hà Nội qua tham vấn nghề ” mang đặc thù tìm hiểu thêm để giúp người đọc hình dungđược tiến trình của việc tham vấn hướng nghiệp và ở mỗi một trường hợp nhỏ cụ thểthì sẽ có những sự đổi khác trong những bước thực thi để tương thích với từng nhóm đốitượng. Giai đoạn 1 Khảo sát khám phá đặc thù học sinhBước 1 Chuẩn bị – Chuẩn bị cho việc tìm hiểu, khảo sát sơ bộ về học viên hoàn toàn có thể sử dụng cácphiếu tìm hiểu, bộ công cụ trắc nghiệm, những câu hỏi phỏng vấn cha mẹ học viên, giáo viên về học viên, và những thông tin thiết yếu khác. – Chuẩn bị cho việc triển khai quy trình tham vấn Các điều kiện kèm theo, phương tiệncần thiết cho quy trình tham vấn ; mạng lưới hệ thống câu hỏi tham vấn ; dự kiến những trường hợp, yếu tố phát sinh .. Bước 2 Điều tra, khảo sát sơ bộ về học viên – Mục tiêu tìm hiểu, khảo sát sơ bộ so với học viên Tìm hiểu những thông tinvề học viên nhằm mục đích hiểu rõ về nhu yếu, nguyện vọng, nhận thức nghề, sự lựa chọnnghề, những khó khăn vất vả của sinh viên để đưa ra hướng tương hỗ – Nội dung cần tìm hiểu, khảo sát sơ bộ chia làm ba nhóm đối tượng người tiêu dùng Đối với học viên thơng tin cá thể học lực, khối thi, mái ấm gia đình, sức khỏe thể chất, trường thi, ngành nghề dự thi ; khám phá sơ bộ về năng lượng, tính cách, của bản thân ; Sở thích, nghề nghiệp ; những khó khăn vất vả, mong ước, nhu yếu của học viên trongquá trình chọn nghề. Đối với giáo viên sau khi trao đổi và có sự chấp thuận đồng ý của học viên, nhà thamvấn trò chuyện với giáo viên về từng học viên trong lớp nhằm mục đích khám phá về tính cách, năng lượng, năng khiếu sở trường, sở trường của những emĐối với cha mẹ học viên Cần có sự chấp thuận đồng ý của học viên trước khi trò chuyện, trao đổi với cha mẹ học viên để tìm hiểu và khám phá rõ hơn về học viên, hiểu biết của cha mẹ25

tiểu luận tham vấn tâm lý học đường